Tên chính thức: Cộng hòa Ấn Độ
Diện tích: 3.290.000 km2
Dân số: 1.027.000.000 (điều tra dân số năm 2001);
• Tốc độ tăng trưởng hiện nay: 1,2% một năm
• Tuổi thọ: nam: 62,3 tuổi, nữ: 65,3 tuổi
• Tỷ lệ tử vong: 8,50/000
Khí hậu:
Ấn Độ có khí hậu lục địa đa dạng: tháng 3-4 là mùa xuân, tháng 5 đến tháng 10 là mùa hè và từ tháng 11 đến tháng 2 là mùa đông. Mùa mưa nhiệt đới kéo dài từ tháng 6 đến tháng 8 và mùa gió mùa đông bắc từ tháng 10 đến tháng 12. Phần lớn lượng mưa là do gió mùa tây nam gây ra. Do sự đa dạng về địa lý, nên điều kiện khí hậu miền ở vùng cực bắc, cực đông và cực tây có thể rất khác nhau.
Vị trí địa lý:
• Vị trí: Nam Á
• Vĩ độ: 8.4° - 37.6° Bắc
• Kinh độ: 68.7° - 97.25° Đông
• Các nước láng giềng: Bhutan, Nepal, Sri Lanka, Pakistan, Bangladesh, Afghanistan, Myanmar and Trung Quốc
• Biển/đại dương: Biển Ả Rập ở phía tây, Vịnh Bengal ở phía đông và Ấn Độ Dương ở phía nam.
Đảo: Quần đảo Lakshadweep ở Biển Ả Rập, quần đảo Andaman và Nicobar ở Vịnh Bengal Ấn Độ chung biên giới với Pakistan và Afghanistan ở phía tây bắc; với Trung Quốc, Nepal và Bhutan ở phía bắc; với Myanmar và Bangladesh ở phía đông. Sri Lanka ngăn cách với mũi cực nam của Ấn Độ bởi Vịnh Mannar và Eo biển Palk.
Các thành phố lớn:
Gần 40% số dân 1.027.000.000 người của Ấn Độ sống ở các trung tâm đô thị; bốn trung tâm lớn nhất là Delhi (12 triệu), Mumbai (16 triệu), Kolkata (13,2 triệu) và Chennai (6,4 triệu). Các thành phố khác, như Pune, Hyderabad, Bangalore, v.v., đang nhanh chóng phát triển thành các trung tâm thương mại và công nghiệp lớn.
Múi giờ:
GMT + 5 giờ 30 phút.
Ngôn ngữ:
Tiếng Hindi là ngôn ngữ chính thống, nhưng tiếng Anh cũng được sử dụng rộng rãi. Ngoài ra, có 22 ngôn ngữ được Hiến pháp Ấn Độ công nhận. Có hơn 1.500 phương ngữ.
Tỷ lệ biết chữ: 70%
Tôn giáo:
Ấn Độ là một đất nước thế tục và không có quốc giáo. Các tôn giáo lớn là Ấn Độ giáo (82%), Hồi giáo (12-15%), Cơ đốc giáo (2,3%), đạo Sikh (1,9%), Phật giáo (0,8%) và đạo Giai-na (0.4%)
Đơn vị tiền tệ:
Rupi (1 rupi = 100 paisa). Tháng 5 năm 2009, 1 đôla Mỹ khoảng 47,30 rupi
Năm tài chính:
1-4 đến 31-3.
Cơ cấu nhà nước:
Liên bang gồm 29 bang và 6 vùng lãnh thổ liên bang; chính phủ trung ương đặt tại New Delhi.
Hệ thống chính trị:
Dân chủ nghị viện đa đảng, dựa trên chế độ phổ thông đầu phiếu của những người trưởng thành
Nghị viện
Cơ quan lập pháp lưỡng viện: Thượng Viện gọi là Rajya Sabha (Hội đồng các bang) và Hạ Viện gọi là Lok Sabha (Hội đồng Nhân dân).
Bầu cử gần đây nhất:
Tháng 4-5 năm 2009
Chính phủ đương thời: Liên minh Tiến bộ Thống nhất (UPA) cầm quyền do đảng Quốc đại đứng đầu.
Nguyên thủ quốc gia:
Tổng thống Pratibha Patil
Lãnh đạo chính phủ: Thủ tướng Manmohan Singh
Quốc ca:
Jana gana mana, do Rabindranath Tagore sáng tác
(xin nhấn vào đây để đọc)
Quốc huy:

Là bản phóng tác Trụ đá sư tử của vua Ashok tại Sarnath, quốc huy vẽ hình ba con sư tử (lấy từ bốn con sư tử đứng châu lưng vào nhau, nhìn về bốn phía bắc, nam, đông và tây, trên trụ đá nguyên bản) và phần trang trí trên trụ đá, tức là bánh xe Phật pháp (Dharma) hay Pháp luân ở giữa, hai bên có hình ngựa và trâu. Phần đế hoa sen hình chuông của trụ đá nguyên bản được bỏ đi và thay vào đó là hàng chữ văn tự Devnagari khắc bên dưới trụ đá: “Satyameva Jayate” – “Duy nhất chân lý chiến thắng”.
Quốc kỳ:

Quốc kỳ Ấn Độ có ba màu xen kẽ nhau theo chiều ngang, chia thành ba phần bằng nhau: trên cùng là màu vàng nghệ sẫm, ở giữa là màu trắng và dưới cùng là màu xanh lá cây sẫm. Màu vàng biểu thị tinh thần hy sinh; màu trắng tượng trưng cho sự tinh khiết; và màu xanh, cho sự phì nhiêu màu mỡ. Ở giữa dải màu trắng là hình bánh xe màu xanh nước biển có 24 căm xe, biểu thị sự tiến bộ. Tỷ lệ rộng-dài của lá cờ là 2-3.
Lịch:
Trên cơ sở Kỷ nguyên Saka với Chaitra là tháng thứ nhất và một năm bình thường có 365 ngày, lịch Ấn Độ luôn luôn tương ứng với lịch Gregory (dương lịch) có tháng Chaitra đầu tiên rơi vào ngày 22 tháng 3 (21 tháng 3 vào năm nhuận).
Con vật biểu tượng quốc gia:

Hổ Panthera tigris (Linnaeus) là loài có sọc. Nó có bộ lông dày, màu vàng với các sọc đen.
Sự kết hợp vẻ duyên dáng, sức mạnh, độ nhanh nhẹn và quyền uy lớn lao mang lại cho hổ vị trí cao quý là con vật biểu tượng quốc gia của Ấn Độ.
Trong số tám loài hổ đã biết, giống hổ Ấn Độ – hổ Hoàng gia Bengal – được tìm thấy trên khắp cả nước, ngoại trừ vùng tây bắc, và ở các nước láng giếng Nepal, Bhutan và Bangladesh. Để kiểm soát số lượng hổ đang dần ít đi ở Ấn Độ, “Dự án hổ” (Project Tiger) đã được phát động vào tháng 4 năm 1973. Cho đến nay, ở Ấn Độ đã có 27 khu bảo tồn hổ được thành lập theo dự án này, bao phủ diện tích 37.761 km2.
Quốc hoa:
Hoa sen (Nelumbo nucifera) là quốc hoa của Ấn Độ. Đó là loài hoa thiêng liêng, chiếm vị trí độc đáo trong nghệ thuật và thần thoại của Ấn Độ cổ đại, và là biểu tượng tốt lành của văn hóa Ấn Độ từ ngàn xưa.
Loài chim biểu tượng quốc gia:
Công Ấn Độ Pavo cristatus (Linnaeus) – loài chim biểu tượng quốc gia của Ấn Độ – là loài chim có màu lông sặc sỡ, cỡ bằng thiên nga, với cái mào hình quạt, đốm trắng dưới mắt và chiếc cổ dài, mảnh. Chim trống sặc sỡ hơn chim mái, ức và cổ có màu xanh lấp lánh, đuôi có màu lục ánh đồng đẹp mắt với khoảng 200 chiếc lông dài. Chim mái màu nâu nâu, nhỏ hơn chim trống một chút và không có đuôi. Điệu múa “ve vãn” trau chuốt của chim trống – xòe đuôi và rỉa lông – là màn biểu diễn tuyệt vời.
Công được tìm thấy nhiều ở tiểu lục địa Ấn Độ – khu vực phía nam và phía đông sông Indus, Jammu và Kashmir, đông Assam, nam Mizoram và toàn bán đảo Ấn Độ. Công được bảo vệ vì người dân không bao giờ “ngược đãi” công, vì lý do tôn giáo và tình cảm. Công được bảo vệ hoàn toàn theo Đạo luật (Bảo vệ) Động vật hoang dã của Ấn Độ năm 1972.
National Anthem:
The song Jana-gana-mana, composed originally in Bengali by Rabindranath Tagore, was adopted in its Hindi version by the Constituent Assembly as the National Anthem of India on 24 January 1950. It was first sung on 27 December 1911 at the Calcutta Session of the Indian National Congress. The complete song consists of five stanzas.
The first stanza contains the full version of the National Anthem:
Jana-gana-mana-adhinayaka, jaya he
Bharata-bhagya-vidhata.
Punjab-Sindh-Gujarat-Maratha
Dravida-Utkala-Banga
Vindhya-Himachala-Yamuna-Ganga
Uchchala-Jaladhi-taranga.
Tava shubha name jage,
Tava shubha asisa mange,
Gahe tava jaya gatha,
Jana-gana-mangala-dayaka jaya he
Bharata-bhagya-vidhata.
Jaya he, jaya he, jaya he,
Jaya jaya jaya, jaya he!
Playing time of the full version of the national anthem is approximately 52 seconds. A short version consisting of the first and last lines of the stanza (playing time approximately 20 seconds) is also played on certain occasions.
The following is Tagore's English rendering of the anthem:
Thou art the ruler of the minds of all people,
dispenser of India's destiny.
Thy name rouses the hearts of Punjab, Sind,
Gujarat and Maratha,
Of the Dravida and Orissa and Bengal;
It echoes in the hills of the Vindhyas and Himalayas,
mingles in the music of Jamuna and Ganges and is
chanted by the waves of the Indian Sea.
They pray for thy blessings and sing thy praise.
The saving of all people waits in thy hand,
thou dispenser of India's destiny.
Victory, victory, victory to thee.