| Tên chính thức: |
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam |
| Tiêu đề: |
“Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” |
Diện tích:
|
331,688 sq. km. |
| Dân số: |
85.2 million (2007) |
| Tốc độ tăng trưởng dân số: |
1.21% |
Quốc kỳ:

Quốc kỳ của Việt Nam, còn được biết đến với tên gọi "cờ đỏ sao vàng", được thiết kế năm 1940 và sử dụng cùng năm đó trong cuộc nổi dậy chống lại ách thống trị của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương. Việt Minh, một tổ chức thành lập năm 1941 do những người cộng sản lãnh đạo, sử dụng lá cờ để chống lại sự xâm lược của phát xít Nhật. Khi Nhật Bản đầu hàng vào giai đoạn cuối của Chiến tranh Thế giới thứ hai, tại Hà Nội, lãnh tụ Việt Minh là Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch nước. Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh quy định sử dụng lá cờ của Việt Minh làm quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau Hiệp định Geneva, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành chính quyền của miền Bắc Việt Nam. Năm 1955, lá cờ được chỉnh sửa để các cạnh của ngôi sao trông sắc nét hơn. Nền đỏ lấy cảm hứng từ lá cờ của Đảng Cộng sản, vốn để vinh danh lá cờ đỏ của Công xã Paris năm 1871. Màu đỏ tượng trưng cho cách mạng và màu máu. Ngôi sao vàng năm cánh thể hiện khối đoàn kết của công nhân, nông dân, trí thức, thương nhân và binh lính trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước khi Sài Gòn được giải phóng năm 1975, chính quyền miền Nam Việt Nam sử dụng lá cờ màu vàng với ba sọc đỏ. Lá cờ đỏ của miền Bắc Việt Nam trở thành quốc kỳ của nước Việt Nam thống nhất khi nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được thành lập ngày 2 tháng 7 năm 1976.
Quốc ca:
"Tiến quân ca" là quốc ca của Việt Nam. Bài hát được Văn Cao (1923-1995) viết và phổ nhạc năm 1944, và được chọn là quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945. Bài hát trở thành quốc ca của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thống nhất năm 1976. Dù bài hát có hai lời, nhưng chỉ phần lời đầu là được dùng làm quốc ca chính thức. (nhấn để xem)
Dân tộc:
|
54 dân tộc, dân tộc ít người chiếm khoảng 10% dân số. |
| Ngôn ngữ: |
Tiếng Việt, được 90% dân số sử dụng; tiếng Anh ngày càng được sử dụng như một ngôn ngữ thứ hai; tiếng Pháp cũng được sử dụng; các thứ tiếng dân tộc ít người |
| Tỉ lệ biết chữ: |
95% |
| Tuổi thọ trung bình: |
71 years |
| Các thành phố lớn: |
|
| Hà Nội (thủ đô): |
3.1 million |
| Thành phố Hồ Chí Minh: |
5.9 million |
| Hải Phòng: |
1.8 million |
Múi giờ:
|
GMT + 7 hours |
| Tiền tệ: |
Đồng Việt Nam |
| Các ngày nghỉ lễ: |
Mùng 1 tháng 1 Năm mới
Ngày 25-29 tháng 1 Tết nguyên đán
Ngày 30 tháng 4 Giải phóng Sài Gòn
Ngày 1 tháng 5 Quốc tế Lao động
Ngày 2 tháng 9 Quốc khánh
|
| Đảng cầm quyền: |
Đảng Cộng sản Việt Nam |
| Cơ quan hành pháp: |
Theo Hiến pháp, Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, được bầu theo nhiệm kỳ 5 năm |
| Cơ quan lập pháp: |
Quốc hội một viện, gồm 493 thành viên, nhóm họp một năm hai lần; bầu cử được tổ chức 5 năm một lần. |
| Lãnh đạo: |
|
| Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam: |
Ngài Nông Đức Mạnh |
| Chủ tịch nước: |
Ngài Nguyễn Minh Triết |
| Thủ tướng: |
Ngài Nguyễn Tấn Dũng |
| Bộ trưởng Ngoại giao: |
Ngài Phạm Gia Khiêm |
| Chủ tịch Quốc hội: |
Ngài Nguyễn Phú Trọng |
| Các chỉ số kinh tế: |
|
| Tăng trưởng GDP: |
3.1% (Quý 1, 2009)
6.2% (2008)
|
| Tổng GDP: |
91,3 tỉ Đô-la (2008) |
| GDP bình quân đầu người: |
1.024 Đô-la (2008) |
| GDP bình quân đầu người (ngang giá sức mua) |
2793 Đô-la (2008) |
| Tổng kim ngạch xuất khẩu: |
61,6 tỉ Đô-la (2008) |
| Tổng kim ngạch nhập khẩu: |
77,6 tỉ Đô-la (2008) |
| Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã cam kết: |
6,7 tỉ Đô-la (Tháng 1-tháng 5, 2009)
60,3 tỉ Đô-la (2008)
|
| Kim ngạch xuất khẩu sang Ấn Độ: |
388 triệu Đô-la (2008) |
| Kim ngạch nhập khẩu từ Ấn Độ: |
2,1 tỉ Đô-la (2008) |
| Các chuyến thăm song phương ở cấp lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo chính phủ gần đây: |
2,1 tỉ Đô-la (2008) |
| Về phía Ấn Độ: |
Tổng thống Pratibha Patil (tháng 11 năm 2008) |
| Về phía Việt Nam: |
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (tháng 7 năm 2007) |
Verse 1
Đoàn quân Việt Nam đi
Chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
Đường vinh quang xây xác quân thù,
Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu.
Vì nhân dân chiến đấu không ngừng,
Tiến mau ra sa trường,
Tiến lên, cùng tiến lên.
Nước non Việt Nam ta vững bền.
English translation
Armies of Vietnam, forward!
With one single determination to save our Fatherland,
Our hurried steps resound on the long and arduous road.
Our flag, red with the blood of victory, bears the spirit of the country.
The distant rumbling of the guns mingles with our marching song.
The path to glory is built by the bodies of our foes.
Overcoming all hardships, together we build our resistance bases.
Ceaselessly for the People's cause let us struggle,
Let us hasten to the battlefield!
Onward! All together advancing!
For one eternal Vietnam.