Tổng quan về khung pháp lý
Hệ thống luật pháp của Việt Nam nói chung bị ảnh hưởng rất lớn bởi hệ thống luật pháp của Trung Quốc, Pháp và Xô viết. Sau khi thực thi chính sách mở cửa năm 1986, Việt Nam đã ban hành Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) để củng cố các thể chế pháp lý cũng như mở đường cho công cuộc cải cách kinh tế do Đảng lãnh đạo.
Nhằm tạo môi trường thuận lợi cho phát triển nền kinh tế nhiều thành phần cũng như môi trường đầu tư thông thoáng và ổn định hơn, Việt Nam đang nỗ lực để cải thiện hệ thống pháp luật của mình. Trong những năm gần đây, rất nhiều bộ luật và thông tư đã được thực thi để tạo khung pháp lý cho chính sách mở cửa, đồng thời để phù hợp với những yêu cầu hội nhập của những điều ước quốc tế, và đặc biệt để chuẩn bị cho việc Việt Nam là thành viên chính thức của WTO. Những bộ luật quan trọng nhất gồm có:
- Luật dân sự (2005);
- Luật Lao động (1994, sửa đổi năm 2002);
- Luật Thương mại (2005)
- Luật Doanh nghiệp (2005)
- Luật Đầu tư (2005)
- Luật các Tổ chức Tín dụng (1997, sửa đổi năm 2004)
- Luật Đất đai (2004)
- Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (2004)
- Luật Kế toán (2004)
Cơ sở hạ tầng
Hệ thống đường bộ
Hệ thống đường bộ ở Việt Nam trải dài 210.000 km, bao gồm 10.732 cây cầu và 178 bến phà. Việt Nam chưa xây dựng đường tàu cao tốc và chỉ có 26% số đường quốc lộ có từ hai làn xe trở lên. Trong những năm gần đây, Chính phủ đã huy động một lượng vốn rất lớn để nâng cấp hệ thống đường xá với sự giúp đỡ về tài chính từ các tổ chức cho vay quốc tế. Trong số đó tập trung phần nhiều vào những con đường có tầm quan trọng hơn như đường quốc lộ 1, nối liền Hà Nội với Thành phố Hồ Chí Minh và đường quốc lộ 5, nối Hà Nội với Hải Phòng.
Đường sắt
Mạng lưới đường sắt bao gồm 3.260 km thuộc 6 tuyến đường đơn đi theo những lộ trình nhất định và 260 sân ga. Tuyến đường dài nhất và quan trọng nhất là tuyến Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh với chiều dài 1.730 km. Tuyến đường này hiện có tàu tốc hành, khiến thời gian đi lại chỉ còn khoảng 29,5 giờ. Các nhà chức trách của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang vạch ra những kế hoạch dài hạn để xây dựng những hệ thống vận chuyển nhanh với sức chuyên chở lớn. Hà Nội đã có những dự án để xây dựng một tuyến đường sắt đi trên cao dài 25 km trong khi chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã chấp thuận đề án xây dựng tuyến tàu điện ngầm dài 19.7 km, khởi công năm 2010 với chi phí ước tính lên đến 1,1 tỉ USD.
Đường thủy nội địa
Có hai hệ thống đường thủy nội địa chính với chức năng vận chuyển một khối lượng phương tiện khổng lồ. Thứ nhất là hệ thống đường thủy nội địa ở khu vực sông Hồng ở phía Bắc trải dài khoảng 2.500 km. Dọc hệ thống này có năm cảng, trong đó cảng Hà Nội là cảng lớn nhất. Tuyến đường thủy nội địa thứ hai chạy dọc theo sông Cửu Long và các chi lưu của nó với chiều dài 4.500 km, có 30 cảng trong đó có cảng Sài Gòn.
Sà-lan là phương tiện vận tải trên các sông lớn. Các số liệu ước tính chính thức cho thấy năng lực của đội tàu vận chuyển là vào khoảng 420.000 tấn với tốc độ trong khoảng từ 2 đến 20 cây số/giờ. Các sà-lan gỗ nhỏ hầu hết thuộc sở hữu tư nhân.
Cảng biển
Việt Nam có trên 80 cảng biển với 11 cảng lớn. Cảng Sài Gòn với trang thiết bị bốc xếp công-ten-nơ hiện đại phục vụ cho hầu hết nhu cầu ở miền Nam, còn cảng Hải Phòng là cảng quan trọng nhất ở miền Bắc. Chính phủ đã quyết định xây dựng cảng Cái Lân, cách Hải Phòng 80 km, khi hoàn thành sẽ đóng vai trò cực kì quan trọng đối với sự phát triển của miền Bắc. Cảng Đà Nẵng nằm ở phía bắc sông Hàn đóng vai trò quan trọng ở miền Trung Tây Nguyên và phục vụ phần lớn giao thông buôn bán giữa Lào và Việt Nam. Số tấn km hàng hóa chở bằng hệ thống 8.000 km đường thủy nội địa lớn gần gấp đôi so với đường sắt, chủ yếu tập trung trên sông Hồng, sông Cửu Long, hệ thống kênh rạch cũng như hệ thống chi lưu của hai con sông đó. Chỉ trong năm 2007, khoảng chừng 6,2 tỉ tấn km hàng hóa đã được vận chuyển bằng đường thủy.
Cảng hàng không và hàng không dân dụng
Có ba sân bay quốc tế nằm ở ba thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Chính phủ đã nâng cấp một cách đáng kể các sân bay quốc tế này để có thể đáp ứng được khối lượng giao thông đi lại ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển năng động của nền kinh tế Việt Nam. Đặc biệt, sân bay Nội Bài ở Hà Nội đã được nâng cấp, mở rộng và đưa vào vận hành năm 2002. Bốn sân bay quốc tế mới đang có kế hoạch được xây dựng ở Phú Quốc và các tỉnh Đồng Nai, Lào Cai, Quảng Ninh. Sân bay quốc tế Long Thành ở tỉnh Đồng Nai hiện đang được xây dựng và dự kiến đưa vào sử dụng vào năm 2011, có khả năng phục vụ tối đa hơn 100 triệu lượt khách hàng năm. Bên cạnh đó là 16 sân bay nội địa khác được bố trí khắp cả nước.
Năng lượng
Trong năm 2007, sản lượng điện cung cấp cho nền kinh tế quốc dân ước đạt 66,8 tỉ kWh. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đang hướng đến việc sản xuất khoảng từ 70 đến 78 tỉ kWh vào năm 2010 và cao hơn nữa, đạt 167 đến 201 tỉ kWh vào năm 2020. Điều này đòi hỏi phải có thêm từ 32 đến 37 nhà máy điện mới với tổng công suất 12.400 MW, trong đó bao gồm khoảng 20 nhà máy thủy điện với tổng công suất 4.000 MW, 8 nhà máy điện sử dụng dầu, khí đốt (5.200 MW) và bảy nhà máy nhiệt điện sử dụng than (3.200 MW). Trong quá trình thực hiện những dự án này cũng đòi hỏi phải xây dựng khoảng 15.000 km đường dây truyền tải điện 110-550 kV, cùng với 300.000 km đường dây phân phối hạ thế và trung thế. Tổng kinh phí đầu tư để đạt được mục tiêu đề ra ước tính khoảng 1,5 đến 2 tỉ USD mỗi năm.
Qua vài năm gần đây, một mạng lưới nhà máy điện công suất lớn đã được xây dựng và đi vào vận hành như nhà máy nhiệt điện Phả Lại với công suất 440 MW, nhà máy thủy điện Trị An với công suất 400 MW và nhà máy thủy điện Hòa Bình với công suất 1.920 MW. Thêm nhiều nhà máy điện lớn nữa đang và sẽ được xây dựng như trung tâm nhiệt điện Phú Mỹ với tổng công suất đạt 3.000 MW hay nhà máy thủy điện Yaly với công suất 720 MW. Ngoài ra, ở khu vực phía Bắc, một khu tổ hợp thủy điện với công suất 3.600 MW cũng đang được xây dựng tại tỉnh Sơn La. Việt Nam cũng đang có kế hoạch hoàn thành xây dựng nhà máy điện nguyên tử đầu tiên vào năm 2020, tạo ra nguồn thay thế nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng điện. Hơn nữa, tiềm năng của Việt Nam để phát triển những nguồn năng lượng có thể tái tạo được cũng rất lớn với nhu cầu sử dụng các dạng năng lượng này ngày càng tăng lên.
Viễn thông
Mặc dù vẫn còn nhiều việc phải làm nhưng Việt Nam đã chứng tỏ được tiến bộ vượt bậc trong việc nâng cấp hệ thống viễn thông. Trong sáu năm qua, ngành công nghiệp viễn thông Việt Nam phát triển với tốc độ rất nhanh, tăng trưởng bình quân đạt 30%. Tại thời điểm hiện tại, với năm nhà cung ứng dịch vụ viễn thông (VNPT, Viettel, Saigon Postel, EVN Telecom và Hanoi Telecom), Việt Nam hiện có trên 40 triệu thuê bao điện thoại, 22 triệu thuê bao trong số đó là của VNPT. Tính đến tháng 8 năm 2008 đã có xấp xỉ 48 triệu người sử dụng điện thoại di động.
Với trên 84 triệu người và khoảng 47% dân số sử dụng dịch vụ điện thoại và 17% dân số sử dụng dịch vụ Internet, Việt Nam là một thị trường tiềm năng cho các nhà đầu tư nước ngoài. Chính phủ Việt nam đã thông qua đề án phát triển viễn thông và Internet đến năm 2010, nhằm hướng đến xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông ngang bằng với các nước trong khu vực với tổng doanh thu từ viễn thông và dịch vụ Internet ước tính đạt khoảng 3,5 tỉ USD vào năm 2010. Để thực hiện được đề án này, Việt Nam phấn đấu đạt mật độ viễn thông khoảng từ 32 đến 42 máy trên 100 dân (hiện tại con số này đang ở mức 47 máy trên 100 dân, vượt xa chỉ tiêu đề ra) cũng như mật độ sử dụng Internet đạt 8 đến 12 thuê bao trên 100 dân vào năm 2010.
Tài chính – ngân hàng
Các tổ chức tín dụng ở Việt Nam bao gồm các ngân hàng quốc doanh, ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng có 100% vốn đầu tư nước ngoài, các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài, hợp tác xã tín dụng, các công ty cho thuê tài chính và các công ty tài chính. Hiện tại có sáu ngân hàng quốc doanh (trong đó có năm ngân hàng thương mại và một ngân hàng chính sách – đó là Ngân hàng Chính sách Xã hội), 37 ngân hàng cổ phần, 5 ngân hàng liên doanh, 31 ngân hàng nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động với 38 chi nhánh, 6 công ty tài chính và 10 công ty cho thuê tài chính. Theo cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam cho phép các ngân hàng 100% vốn nước ngoài có thể thành lập tại Việt Nam từ 1 tháng 4 năm 2007. Phạm vi hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài đang dần dần được nới rộng để phù hợp với các cam kết của Việt Nam đối với WTO và các hiệp định song phương và đa phương đã kí kết khác. Sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO, Việt Nam đã dỡ bỏ tất cả các rào cản đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cho phép các chi nhánh này nhận tiền gửi bằng VND của các công dân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ tín dụng.
Các tổ chức tín dụng nước ngoài hiện nay có quyền nắm giữ tối đa 30% vốn điều lệ của một ngân hàng cổ phần, trong đó một tổ chức tín dụng quốc tế có thể có trong tay tối đa 10% cổ phần. Chính phủ đang soạn thảo một qui định mới để mở rộng tỉ lệ cổ phần tối đa mà một tổ chức tín dụng nước ngoài với vai trò là một cổ đông chiến lược của một ngân hàng cổ phần có thể nắm giữ lên 20%.
Luật các Tổ chức Tín dụng, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 1998 và được sửa đổi năm 2004, cho phép ngân hàng có thể cung cấp nhiều loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau, từ các sản phẩm tài chính truyền thống của ngân hàng cho đến quản lý quỹ và dịch vụ bảo hiểm. Những quy định về thị trường chứng khoán cũng cho phép các ngân hàng trong nước mở công ty chứng khoán riêng để tham gia vào thị trường này. Cùng với sự phát triển của thị trường cổ phiếu, đây là cơ sở pháp lý cho sự hợp nhất trong tương lai của các lĩnh vực khác nhau của tài chính như ngân hàng, thị trường vốn, bảo hiểm và quản lý quỹ.
Kể từ năm 1998, với sự giúp đỡ của các tổ chức tài trợ đa phương, Chính phủ đã phác thảo một cuộc cải cách toàn diện và một trương trình tái cấu trúc nhằm nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng thương mại. Chương trình bao gồm bốn phần: (i) tái cấu trúc các ngân hàng cổ phần bằng việc sáp nhập hoặc đóng cửa để giảm số lượng các ngân hàng xuống còn một nửa; (ii) chuyển đổi các ngân hàng thương mại quốc doanh thành các đơn vị kinh doanh độc lập; (iii) cải thiện, tăng cường việc giám sát và thanh tra các ngân hàng thương mại để tạo ra một sân chơi bình đẳng; và cuối cùng (iv) thành lập các công ty quản lý tài sản như một công cụ để giải quyết vấn đề các khoản nợ xấu. Cũng trong khuôn khổ chương trình tái cấu trúc, hai ngân hàng thương mại quốc doanh (Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long) tiến hành thí điểm quá trình cổ phần hóa từ năm 2005. Theo dự kiến, sau khi thực hiện thí điểm xong, tất cả các ngân hàng thương mại quốc doanh khác cũng sẽ được cổ phần hóa trong các năm tới đây.
Các công cụ mới của thị trường tiền tệ cũng bắt đầu được sử dụng như hợp đồng mua lại (Repos), chiết khấu và hợp đồng hoán đổi, v.v góp phần thu hẹp khoảng cách giữa thị trường tài chính của Việt Nam với các thị trường khác trên thế giới.
Quản lý thị trường hối đoái
Tất cả những hoạt động mua, bán, cho vay hay chuyển ngoại tệ phải được thực hiện thông qua các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính khác được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) cho phép.
Luồng đi ra của ngoại tệ thông qua chuyển đổi phải được thực hiện thông qua một số giao dịch nhất định như thanh toán tiền nhập khẩu và xuất khẩu cho nước ngoài, tiền bồi hoàn của các khoản vay được kí kết ở nước ngoài và chi trả lãi suất phát sinh từ các khoản vay đó, chuyển lợi nhuận và cổ tức cũng như doanh thu từ việc chuyển giao công nghệ.
Theo nguyên tắc chung, tất cả các giao dịch bằng tiền ở Việt Nam phải được thực hiện bằng đồng Việt Nam. Những trường hợp ngoại lệ bao gồm thanh toán xuất khẩu giữa người ủy nhiệm và các đại lý và thanh toán hàng hóa, dịch vụ được mua từ các tổ chức được cho phép nhận thanh toán bằng đồng ngoại tệ ví dụ như trả tiền vé máy bay, thanh toán tiền vận chuyển bằng đường biển và đường hàng không, bảo hiểm và liên lạc quốc tế.
Qui định bắt buộc mọi công dân phải bán một phần doanh thu của họ từ ngoại tệ từ các giao dịch hiện thời cho các ngân hàng được ủy quyền đã được bãi bỏ năm 2003. Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có thể mua ngoại tệ từ các ngân hàng để thỏa mãn những yêu cầu nhất định về ngoại tệ trong các giao dịch của họ, tùy vào những hoàn cảnh nhất định.
Những doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có thể mở một tài khoản ngân hàng ở nước ngoài nhưng phải có sự cho phép trước của SBV. Phải đáp ứng yêu cầu khi bên nước ngoài đối với các dự án BOT, BTO hay BT yêu cầu một tài khoản ở nước ngoài để có thể thực hiện thành công dự án.
Những nhà đầu tư nước ngoài và những người nước ngoài làm việc ở Việt Nam có thể chuyển các khoản lợi nhuận từ đầu tư và các thu nhập hợp pháp mà họ kiếm được ở Việt Nam ra nước ngoài và như đã nói ở trên, những khoản vốn đã đầu tư vẫn còn được duy trì sau khi dự án đầu tư đó được thanh lý.
Thị trường vốn
Trung tâm giao dịch chứng khoán được mở tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 (HCMC STC) và ở Hà Nội vào năm 2005 (HASTC). Hiện nay, cả hai trung tâm giao dịch này đều đã được nâng cấp thành một sàn giao dịch chính thức.
Tính đến cuối năm 2007, có tổng cộng 249 mã chứng khoán và những quỹ niêm yết thống kê được ở trên sàn Thành phố Hồ Chí Minh và trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (138 mã của HOSE và 111 mã trên HASTC). Số lượng những công ty niêm yết chỉ chiếm khoảng 2% tổng các doanh nghiệp cổ phần hiện đang hoạt động tại Việt Nam. Hiện có khoảng 5,5 tỉ cổ phiếu được giao dịch trên sàn chứng khoán chính thức, gấp đôi số lượng của năm 2006 và gấp 15 lần so với năm 2005. Tổng lượng vốn trên thị trường đã vượt mức 30,7 tỉ USD, tương đương với 43% GDP, một con số tương đối cao cho một thị trường chứng khoán mới chỉ ra đời cách đây 7 năm. Mặc dù vậy, con số 30,7 tỉ USD vẫn tỏ ra khá khiêm tốn khi đem so sánh với thị trường chứng khoán trong khu vực và trên thế giới.
Hiện có 74 công ty chứng khoán đang hoạt động, trong khi chỉ có 55 công ty năm 2006 và 14 công ty năm 2005. Có 24 công ty quản lý quỹ đầu tư, trong khi năm 2006 chỉ có 18 công ty và năm 2005 là 6 công ty. Những trung tâm chứng khoán này tạo ra một kênh huy động vốn dài hạn mới, giúp đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa ở các doanh nghiệp Việt Nam cũng như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng và cả quá trình cải cách kinh tế nói chung.
Các nhà đầu tư nước ngoài hiện tại có thể nắm giữ tới 49% cổ phiếu của công ty đã niêm yết và 30% của một công ty chưa được niêm yết. Trái phiếu có thể được nắm giữ một cách tự do. Chính phủ đang soạn thảo một quy định về số lượng cổ phiếu tối đa những nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm giữ trong các công ty đã và chưa niêm yết dựa trên các cam kết của Việt Nam đối với các hiệp ước quốc tế song phương và đa phương. Theo như cam kết của Việt Nam đối với WTO, sau một năm kể từ ngày chính thức gia nhập WTO, quy định liên quan đến việc các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được nắm giữ tối đa 30% cổ phần của một doanh nghiệp Việt Nam sẽ được bãi bỏ (trừ việc nắm giữ cổ phần của các ngân hàng cổ phần và một số lĩnh vực nhất định).
Trong lãnh thổ Việt Nam, việc mua bán chứng khoán của các nhà đầu tư nước ngoài phải được thực hiện bằng VND. Để có thể mua cổ phiếu của một công ty không có trong danh sách niêm yết, nhà đầu tư nước ngoài phải mở một tài khoản VND đặc biệt ở một ngân hàng được phép hoạt động ở Việt Nam và đăng kí tài khoản đó với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tất cả các giao dịch liên quan đến việc mua bán chứng khoán, nhận cổ tức và chuyển lợi nhuận phải được thực hiện thông qua tài khoản đó.
Về phía các nhà đầu tư nước ngoài đang đầu tư vào các công ty đã niêm yết, họ phải có một mã giao dịch từ công ty chứng khoán và mở một tài khoản giao dịch chứng khoán riêng biệt bằng VND ở công ty chứng khoán đó để phục vụ cho các hoạt động mua bán chứng khoán ở Trung tâm Giao dịch Chứng khoán.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã từng bước cải thiện môi trường kinh doanh trong những năm gần đây bằng việc đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa ở các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quy định đầu tiên liên quan đến cổ phần hóa của một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được ban hành thử nghiệm vào năm 2003. Tính tới nay, đã có 12 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cổ phần hóa xong. Với việc ban hành mới luật Doanh nghiệp và luật Đầu tư đi vào hiệu lực từ 1 tháng 7 năm 2006, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể thành lập dưới hình thức công ty cổ phần.
Đất đai
Tại Việt Nam, đất đai được coi là tài sản của toàn dân và chịu sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước – đại diện bởi các Sở Nhà đất trung ương và địa phương – có trách nhiệm quản lý quyền sử dụng đất và cho cá nhân, gia đình, các tổ chức kinh tế, chính trị và xã hội trong và ngoài nước thuê đất. Đất đai không phải là sở hữu của riêng cá nhân nào.
Tùy theo những hoàn cảnh nhất định mà các chủ sở hữu đất ở trong nước có quyền sử dụng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế (chỉ áp dụng đối với cá nhân) hay thế chấp quyền sử dụng đất của họ hoặc sử dụng nó để góp vốn vào công ty liên doanh.
Những người nước ngoài sử dụng đất phải thuê đất từ Nhà nước hoặc từ các doanh nghiệp Việt Nam hoặc nước ngoài đã được cấp phép để thuê lại đất trong những khu công nghiệp hoặc khu chế xuất. Trong trường hợp này, thời gian tối đa mà người nước ngoài có thể thuê thường không vượt quá 50 năm, mặc dù trong các trường hợp đặc biệt thời gian thuê có được gia hạn thành 70 năm. Những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có thể được sử dụng đất theo đúng những mục đích đã được cho phép. Đối với những khu đất được thuê mà quyền sử dụng đất đã được trả một lần cho cả quá trình thuê, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể thế chấp quyền sử dụng đất của họ tại các ngân hàng được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam (bao gồm cả các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn đầu tư nước ngoài), cho thuê lại, chuyển quyền sử dụng đất hay sử dụng quyền này như một tài sản góp vốn vào doanh nghiệp liên doanh.
Lao động
Một trong những điểm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đến với Việt Nam chính là lực lượng lao động dồi dào, lành nghề và giá rẻ. Dân số Việt Nam ước đạt xấp xỉ 83,1 triệu người vào tháng 7 năm 2005 và dự đoán sẽ tăng lên đến 90 triệu vào năm 2010 với tốc độ tăng tăng hàng năm là 1,6%. Người trong độ tuổi dưới 25 chiếm hơn 61,6% dân số. Khoảng 15,5% dân số là công nhân đã được đào tạo và có tay nghề (có trình độ sơ cấp hoặc cao hơn). Điều này đang được cải thiện nhờ các chương trình dạy nghề được cập nhật tại các trung tâm giáo dục và đào tạo. Mối quan tâm hàng đầu của chính phủ chính là giáo dục và đào tạo có chất lượng và đây cũng chính là lĩnh vực nhận được nhiều vốn đầu tư mới bởi nó hiện mang lại nhiều lợi ích to lớn.
Luật Lao động ban hành tháng 7 năm 1994 (được sửa đổi năm 2002) tạo ra khung pháp lý nêu rõ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động về các vấn đề liên quan đến số giờ lao động, các thỏa thuận lao động, chi trả bảo hiểm xã hội, làm thêm giờ, đình công và vi phạm các hợp đồng lao động cũng như các vấn đề khác. Thêm vào đó, một vài nghị định thi hành cụ thể và thông tư cũng được ban hành liên quan đến các điều khoản trong luật Lao động.
Pháp luật quy định một ngày làm việc gồm 8 tiếng và 1 tuần làm việc gồm 48 giờ lao động. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận đồng ý với nhau về việc người lao động có thể làm thêm giờ nhưng không vượt quá 200 giờ một năm (trong những trường hợp đặc biệt, con số này có thể được gia tăng lên 300 giờ tùy theo sự phê chuẩn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền). Có hiệu lực từ ngày 2 tháng 10 năm 1999, nhiều tổ chức như các văn phòng Chính phủ, cơ quan hành chính và các tổ chức chính trị xã hội đã thực hiện quy định tuần làm 40 giờ. Các công ty trong những lĩnh vực kinh tế khác, bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cũng được khuyến khích thực thi một tuần làm việc 40 tiếng.
Trong bất cứ hợp đồng lao động nào, lương và tiền công nên được xác định rõ ràng bằng VND (trừ những lao động làm việc tại các chi nhánh và văn phòng đại diện nước ngoài, lương của họ sẽ được ấn định bằng Đô-la Mỹ và trả bằng VND). Tiền công của người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được xác định dựa trên tỉ lệ thấp nhất do bộ Lao động, thương binh và xã hội quyết định. Hiện tại, tiền công tối thiểu hàng tuần như sau:
- 870.000 VND (xấp xỉ 54 USD) đối với lao động phổ thông trong các quận nội thành ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- 790.000 VND (xấp xỉ 49 USD) ở những huyện ngoại thành của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, các quận nội thành Hải Phòng, thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, thành phố Biên Hòa của tỉnh Đồng Nai, thành phố Vũng Tàu của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Thị trấn Thủ Dầu Một và các huyện Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên của tỉnh Bình Dương.
- 710.000 VND (xấp xỉ 44 USD) cho các tỉnh khác.
Hiện tại người sử dụng lao động phải đóng 15% tổng tiền lương cho quỹ bảo hiểm xã hội do nhà nước quản lý và 2% vào các loại bảo hiểm sức khỏe. Người lao động đóng góp 5% và 1% cho từng loại. Người nước ngoài làm việc Việt Nam không bắt buộc phải đóng bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội.
Luật Bảo hiểm Xã hội mới đã có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2007. Theo đó, mức lương phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ không vượt quá trần là 20 tháng lương tối thiểu áp dụng tại các doanh nghiệp trong nước (hiện tại ở mức 450.000 VND / tháng). Trước năm 2010, tỉ lệ đóng góp vào bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động và người lao động giữ không đổi ở mức 15% và 5% cho từng bên. Từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần, tỉ lệ đó tăng lên 1% cho đến khi đạt mức đóng 18% đối với người sử dụng lao động và 8% đối với người lao động. Thêm vào đó, từ 1 tháng 1 năm 2009, người sử dụng lao động và người lao động sẽ phải đóng 1% tiền lương của mình vào bảo hiểm thất nghiệp.
Tùy theo từng tường hợp cụ thể đồng thời dựa trên bản chất của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mà hồ sơ đang được lập, cơ quan cấp giấy phép đầu tư có thể yêu cầu nhà đầu tư cung cấp thêm một số tài liệu có liên quan.
Nội thương và ngoại thương
Các doanh nghiệp Việt Nam có quyền tự do thực hiện các hoạt động thương mại tại Việt Nam và được phép xuất khẩu và nhập khẩu trực tiếp tất cả các mặt hàng, trừ một số mặt hàng nhất định bị hạn chế đòi hỏi một bằng chứng nhận kinh doanh đặc biệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có thể phân phối trực tiếp sản phẩm hoặc gây dựng mạng lưới bán hàng mà họ sản xuất ở Việt Nam và có thể trực tiếp xuất khẩu những sản phẩm này. Mặc dù vậy, việc hình thành nên những giao dịch thương mại thuần túy (không liên quan đến hoạt động sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài) vẫn bị hạn chế, liên quan đến những cam kết của Việt Nam trong những hiệp định quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam là một thành viên.
Theo những cam kết của Việt Nam đối với WTO, đối với dịch vụ đại lý ủy thác hay đại lý ủy thác bán buôn và bán lẻ, về vấn đề gia nhập thị trường, Việt Nam cho phép thành lập những công ty liên doanh có phần vốn điều lệ do phía nước ngoài đóng góp không vượt quá 49%. Đến 1 tháng 1 năm 2009, giới hạn liên quan đến 49% vốn được bãi bỏ. Về vấn đề gia nhập, những công ty có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động dịch vụ phân phối sẽ được phép tham gia bán buôn, bán lẻ các loại mặt hàng được nhập khẩu hoặc sản xuất tại địa phương, trừ các mặt hàng như xi măng, lốp xe (trừ lốp máy bay), giấy, máy kéo, xe máy, ô tô và mô-tô, sắt/thép, thiết bị nghe nhìn, rượu, rượu mạnh và phân bón. Từ 1 tháng 1 năm 2009, hoạt động bán buôn, bán lẻ máy kéo, xe gắn máy, xe ô tô và xe máy sẽ được cho phép hoạt động. Những rào cản này sẽ được dỡ bỏ sau ba năm kể từ khi kí kết gia nhập WTO. Trên cơ sở cuộc Kiểm tra Nhu cầu Kinh tế, các đại lý đối với dịch vụ bán lẻ sẽ được thành lập.