Việt Nam là một nước đang phát triển với dân số đông, trong hơn 30 năm qua đang phải phục hồi khỏi sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát chỗ dựa về tài chính sau khi Liên bang Xô viết tan rã và sự cứng nhắc của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Sau nhiều năm với các cuộc chiến tranh kéo dài, trong hoàn cảnh bị cô lập về chính trị và trì trệ về kinh tế, Việt Nam đang nhanh chóng hòa mình vào dòng chảy chung của kinh tế và chính trị thế giới. Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách Đổi Mới (cải cách kinh tế), hướng tới một nền kinh tế thị trường. Trong môi trường tự do đầu tư, những nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới đang thể hiện rõ sự quan tâm chưa từng có đối với Việt Nam.
Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Việt Nam đạt mức 8-9,5% trong suốt hơn mười năm cho đến năm 1997. Mặc dù vậy, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giảm xuống còn 5,8% năm 1998, 4,7% năm 1999 nhưng sau đó phục hồi và đạt mức 6,7% năm 2000, 7% năm 2002, 7,7% năm 2004, 8% năm 2006 và 8,5% năm 2007. Tăng trưởng công nghiệp đạt trung bình từ 12 đến 14% trong suốt hơn một thập kỉ vừa qua. Đại hội Đảng lần thứ 10 diễn ra năm 2005 đúc kết những mục tiêu kinh tế then chốt cho kết hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm 2006-2010 như sau:
Tốc độ tăng trưởng GDP: từ 7,5 đến 8% / năm trong đó:
- Nông, lâm, ngư nghiệp: 3% đến 3.2% / năm.
- Công nghiệp và xây dựng: 9.5% đến 10.2% / năm.
- Dịch vụ 7.7% đến 8.2% / năm.
Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạt 16% / năm
Cơ cấu kinh tế năm 2010:
- Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 15% đến 16% GDP
- Công nghiệp và xây dựng chiếm 43% đến 44% GDP
- Dịch vụ chiếm 40% đến 41% GDP
Các cơ quan chức năng Việt Nam một lần nữa thể hiện cam kết của mình về tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế. Chính phủ đã thực hiện cải cách cơ cấu tổ chức, điều cần thiết để hiện đại hóa nền kinh tế và sản xuất ra những mặt hàng công nghiệp có sức cạnh tranh cao hơn cũng như hướng về xuất khẩu. Việc Việt Nam gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và kí kết có hiệu lực Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 2001 đã tạo ra những sự thay đổi nhanh chóng hơn đối với thể chế kinh tế và thương mại của Việt Nam. Nó đồng thời sẽ tạo ra một cú hích quan trọng cho nền kinh tế và giúp đảm bảo tiến trình cải cách tiến tới tự do hóa. Bên cạnh đó, việc gia nhập các tổ chức trên cũng giúp Việt Nam tận dụng được sự lệch pha của Hiệp định dệt may, giúp xóa bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may và vải vóc đối với các thành viên của WTO từ 1 tháng 1 năm 2005. Tỉ lệ dân số sống dưới mức nghèo, được xác định bằng tỉ lệ dân số sống dưới mức 1 USD / ngày, đã giảm đáng kể và thấp hơn các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines. Việt Nam đang cố gắng tạo việc làm để đáp ứng nhu cầu của lực lượng lao động mỗi năm tăng hơn 1 triệu người, đồng thời hướng đến tỉ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm ở mức 7,5 đến 8% trong suốt 5 năm tới.
Nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp. Khu vực đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam là hai khu vực nông nghiệp chủ yếu với những nông sản chính bao gồm gạo, hồ tiêu, đay, cao su, đường mía, cà phê, chè, cây họ lạc và thuốc lá. Nhờ những cải cách lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, chẳng hạn việc áp dụng hình thức khoán, cùng với sự tăng lên của đầu tư trực tiếp, các ưu đãi về thuế và giá thu mua lương thực cao hơn từ Chính phủ, tổng sản lượng lương thực gia tăng lên đáng kể từ 1988 trở đi.
Một trong những tác động của sự phát triển quá nhanh của công nghiệp ở Việt Nam chính là việc đất nông nghiệp bị chuyển đổi sang đất khu công nghiệp. Điều này phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: tỉ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 20,6% năm 2006 xuống còn 24,5% năm 2000. (Ngành công nghiệp và dịch vụ đóng góp tới hơn 90% tổng tăng trưởng GDP năm 2007) Sản lượng chè, cà phề và cao su tự nhiên đã giúp đẩy mạnh xuất khẩu trong ngành nông nghiệp. Nhu cầu tăng cao từ các thị trường nước ngoài cũng giúp củng cố thêm sức tăng trưởng của ngành ngư nghiệp. Hiện tại Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới, đứng thứ 2 sau Thái Lan về xuất khẩu gạo, thứ 2 sau Bra-xin về cà phê và sau Ấn Độ về hạt điều, đứng thứ tư thế giới về xuất khẩu cao su và thứ 7 thế giới về xuất khẩu chè. Chính phủ đang tập trung mạnh vào các cây hoa màu với tiềm năng xuất khẩu cũng như tập trung vào xây dựng ngành công nghiệp chế biến nông sản. Với mục đích khuyến khích nông dân đầu tư lâu dài và tăng năng suất, Luật Đất đai mới đã được kì họp Quốc hội vào tháng 7 năm 1993 thông qua, trong đó công nhận những quyền của nông dân trong việc trao đổi, chuyển giao, cho thuê và thừa kế phần đất đã được phân phối. Cơ cấu thuế cũng đã có thêm một số thay đổi liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng đất để đảm bảo sự cân bằng trong mức thu thuế của chính quyền trung ương và địa phương. Mặc dù vậy, đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước, phù hợp với Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các nhà đầu tư coi Việt Nam là điểm đến hấp dẫn thứ nhì trong khu vực sau Trung Quốc. Trong 7 tháng đầu năm 2008, đã có hơn 45,49 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư vào Việt Nam. Về tổng vốn cam kết, 654 dự án đầu tư mới đăng ký tổng vốn 43,7 tỉ USD và 188 dự án đang hoạt động quyết định tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 788 triệu USD. Tổng kim ngạch buôn bán trong 7 tháng đầu năm 2008 đạt 88,77 tỉ USD nhưng mức thâm hụt thương mại trong cùng khoảng thời gian cũng lên tới 15 tỉ USD.
Tuy vậy, nếu so với thành tích tăng tỉ lệ tăng trưởng cao trong những năm gần đây thì tăng trưởng kinh tế đang chậm lại. Theo nguồn của chính phủ Việt Nam, trong quý hai năm 2008, GDP thực tế tăng chỉ 5,6% so với cùng kì năm ngoái, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2000. Đây cũng là kết quả của chính sách có tính toán từ trước giảm tăng trưởng của tín dụng nội địa nhằm kiềm chế lạm phát. Trong bảy tháng đầu năm 2008, chỉ số CPI tăng 19,78%. Nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) tăng 3% trong nửa đầu năm 2008, tăng nhẹ so với con số 2,8% trong nửa đầu năm 2007. Toàn ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng 7% trong hai quý đầu, giảm so với mức 9,9% đạt được nửa đầu năm 2007. Nguyên nhân chính của của sự suy giảm này chính là sự sụt giảm mạnh của ngành xây dựng. Sản xuất, mặc dù vậy, vẫn tăng trưởng tốt, đạt mức tăng 11,4% trong nửa đầu ngoái. Mặc dù mức tăng GDP khá khiêm tốn, sản lượng công nghiệp vẫn tiếp tục tăng vọt lên mức 16,5% trong nửa đầu năm 2008.
Quan hệ kinh tế của Việt Nam đã được đa dạng hóa một cách rõ rệt và trao đổi kinh tế của Việt Nam với các nước láng giềng trong ASEAN, với Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Hàn Quốc, Australia và Singapore đã được mở rộng và tăng trưởng nhanh chóng. Một số ngân hàng nước ngoài đã được cấp giấy phép mở chi nhánh tại Việt Nam và rất nhiều trong số đó đã bắt đầu hoạt động ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc chính là những nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam.
Nhân tố then chốt giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển chính là thương mại. Trong giai đoạn 2001-2007, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng mỗi năm 17,5%. Cả thành phần và chất lượng của các mặt hàng xuất khẩu được nâng lên trông thấy. Tỉ lệ sản phẩm công nghiệp trong các sản phẩm xuất khẩu tăng lên đáng kể. Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 18,8% mỗi năm. Kim ngạch xuất khẩu đạt 520 USD một đầu người. Mặc dù vậy, do phải nhập khẩu số lượng lớn cây trồng, thiết bị và vật liệu cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cho các dự án đầu tư nước ngoài nên thâm hụt thương mại đã tăng lên trong suốt 3 năm vừa qua. Quan hệ buôn bán với các nước bạn, đặc biệt là các nước khác trong khu vực được mở rộng.
Sự tăng trưởng của khu vực tư nhân chính là một trong những đặc điểm nổi bật của sự phát triển kinh tế ở Việt nam trong suốt hơn một thập kỉ qua. Khu vực tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm hơn một nửa GDP năm 2007. Các ước tính sơ bộ chỉ ra rằng doanh nghiệp tư nhân tạo ra gần 90% trong tổng số 7,5 triệu việc làm được tạo ra trong suốt 5 năm từ 2001-2005. Một phần lớn trong số 1,6 triệu việc làm mới ở Việt Nam cần tạo ra mỗi năm từ 2006 đến 2010 được trông cậy vào khu vực tư nhân. Tuy vậy, việc thiếu lao động có tay nghề đã trở thành một vấn đề hiển hiện. Các nhà chức trách của các khu công nghiệp và khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết các trường dạy nghề trong thành phố chỉ đáp ứng được khoảng 15% trong số lượng 500.000 công nhân mà ngành công nghiệp của thành phố có khả năng sẽ cần đến qua 2010.
Về mặt chính sách, một chiến lược cải cách ngân hàng đã được Chính phủ dự thảo từ tháng 5 năm 2006. Ngân hàng Nhà nước Việt nam sẽ được chuyển đổi thành mô hình ngân hàng trung ương, được ủy thác cũng như có chức năng điều hành chính sách tiền tệ và giám sát các định chế tài chính. Đến năm 2010, các ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ được tái cấu trúc, cổ phần hóa hoặc tư nhân hóa một phần với nỗ lực cải thiện năng lực hoạt động của các ngân hàng này. Vào tháng 12 năm 2006, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt danh sách các công ty nhà nước sẽ cổ phần hóa trong giai đoạn từ 2007 đến 2010, bao gồm cả những công ty lớn như Việt Nam Airlines, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), v.v. Một số ngân hàng trong nước cũng đã chọn những ngân hàng lớn trên thế giới làm đối tác chiến lược. Hai ngân hàng nước ngoài là HSBC và Standard Chartered nhận giấy cấp phép vào tháng 9 năm 2008 để hoạt động tại Việt Nam như các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đây là một bước tiến lớn, dỡ bỏ rào cản cho hai ngân hàng này t
Thị trường chính khoán phát triển vượt xa sức mong đợi chỉ trong một vài năm gần đây. Một bộ luật liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng quán đã được thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1 năm 2007. Số công ty niêm yết tăng theo cấp số nhân và tổng giá trị thị trường tăng gấp gần 20 lần so với thời điểm năm 2005. Mặc dù vậy, từ năm 2007, thị trường cổ phiếu bắt đầu gặp phải những khó khăn và vẫn đang trong thời kì lao đao. Chỉ số giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh liên tục giảm điểm trong 9 tháng gần đây, từ mức khá cao gần 1100 điểm vào giữa tháng 10 năm 2007 xuống còn dưới 500 điểm tại thời điểm hiện tại. Giai đoạn bùng nổ ban đầu của thị trường cỏ phiếu cũng thúc đẩy nhiều công ty nhà nước phát hành cổ phần ra các nhà đầu tư hơn. Chi nhánh của một vài công ty nhà nước lớn trong các lĩnh vực như thủy điện cũng có đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng thành công.
Việt Nam đang có những bước chuyển mình để cải thiện khả năng quản lý các doanh nghiệp và điều chỉnh thị trường. Số vốn tối đa mà bên nước ngoài có thể nắm giữ tại các công ty niêm yết tăng từ 30% lên 49%. Số lượng khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam đạt 4 triệu lượt năm 2007. Việt Nam đã kí các bản ghi nhớ hợp tác và các hiệp định với một số nước như Malaysia hay Ả rập Xê út về vấn đề xuất khẩu lao động.
Kinh tế Việt Nam qua những con số
I. Tăng trưởng công nghiệp (% tăng trưởng trên mức giá năm 1994)
| Tổng |
Thành phần sở hữu |
| Nhà nước |
Tư nhân |
FDI |
| 1996 |
14.2 |
11.6 |
11.5 |
21.7 |
| 1997 |
13.8 |
10.8 |
9.5 |
23.2 |
| 1998 |
12.5 |
7.7 |
7.5 |
24.4 |
| 1999 |
11.6 |
5.4 |
10.9 |
21.0 |
| 2000 |
17.5 |
13.2 |
19.2 |
21.8 |
| 2001 |
14.6 |
12.7 |
21.5 |
12.6 |
| 2002 |
14.8 |
12.5 |
18.3 |
15.2 |
| 2003 |
16.8 |
11.9 |
23.3 |
18.0 |
| 2004 |
16.6 |
11.9 |
22.3 |
17.4 |
| 2005 |
17.2 |
8.7 |
24.1 |
20.9 |
| 2006 |
17.0 |
9.1 |
23.9 |
18.8 |
| 1997 |
17.1 |
10.3 |
20.9 |
18.2 |
Nguồn: Tổng cục thống kê
II. Xuất nhập khẩu của Việt Nam
Tỉ USD

Nguồn: Tổng cục thống kê
III: 10 nước và vùng lãnh thổ hàng đầu cho hàng xuất khẩu Việt Nam năm 2008
USD

Các địa chỉ nhập khẩu hàng đầu năm 2008

Các hàng hóa xuất nhập khẩu chủ yếu
VIệT NAM: Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu – 2008
Triệu USD
| 1 |
Dầu thô |
10450 |
| 2 |
Dệt may |
9108 |
| 3 |
Da giầy |
4697 |
| 4 |
Hải sản |
4562 |
| 5 |
Lúa gạo |
2902 |
| 6 |
Đồ gỗ |
2779 |
| 7 |
Điện tử, máy tính |
2703 |
| 8 |
Cà phê |
2022 |
| 9 |
Cao su |
1597 |
| 10 |
Than đá |
1444 |
| 11 |
Dây & cáp điện |
1014 |
| 12 |
Khác |
19622 |
VIệT NAM: Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu - 2008
| 1 |
Máy móc, thiết bị |
13712 |
| 2 |
Xăng |
10888 |
| 3 |
Théo |
6566 |
| 4 |
Trong đó: phôi thép |
1657 |
| 5 |
Điện tử, máy tính và linh kiên |
3722 |
| 6 |
Nhựa |
2924 |
| 7 |
Dệt may, da |
2376 |
| 8 |
Hóa chất |
1768 |
| 9 |
Thức ăn gia súc |
1738 |
| 10 |
Chế phẩm hóa học |
1607 |
| 11 |
Khác |
33442 |
Xuất nhập khẩu dịch vụ năm 2008
|
Triệu USD |
2008 so với
2007 (%)
|
Cấu trúc
2008 %
|
| 2007 |
2008 |
| Dịch vụ xuất khẩu |
6460 |
7096 |
109.8 |
100.0 |
| Vận chuyển hàng không |
1069 |
1322 |
123.7 |
18.6 |
| Vận chuyển đường biển |
810 |
1034 |
127.7 |
14.6 |
| Bưu chính viễn thông |
110 |
80 |
72.7 |
1.2 |
| Du lịch |
3750 |
4020 |
107.2 |
56.7 |
| Tài chính |
332 |
230 |
69.3 |
3.2 |
| Bảo hiểm |
65 |
60 |
92.3 |
0.8 |
| Dịch vụ chính phủ |
45 |
50 |
111.1 |
0.7 |
| Khác |
279 |
300 |
107.5 |
4.2 |
| |
|
|
|
|
| Dịch vụ nhập khẩu |
7176 |
7915 |
110.3 |
100.0 |
| Du lịch |
1220 |
1300 |
106.6 |
16.4 |
| Vận chuyển hàng không |
820 |
800 |
97.6 |
10.2 |
| Vận chuyển đường biển |
250 |
300 |
120.0 |
3.8 |
| Bưu chính viễn thông |
47 |
54 |
115.7 |
0.7 |
| Tài chính |
300 |
230 |
76.7 |
2.9 |
| Bảo hiểm |
210 |
150 |
71.4 |
1.9 |
| Dịch vụ chính phủ |
40 |
50 |
125.0 |
0.6 |
| Khác |
1030 |
850 |
82.5 |
10.7 |
| Giá C.I.F ước tính cho hàng nhập khẩu |
3259 |
4181 |
128.3 |
52.8 |
Nguồn: Tổng cục Thống kê