Trang chủ | English
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
    • Đại sứ quán Ấn Độ, Hà Nội
      • Đại sứ quán
        • Lời giới thiệu
        • Địa chỉ & Bản đồ
        • Liên hệ chi tiết
        • Giờ làm việc
        • Ngày nghỉ
      • Đại sứ
        • Các Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam
        • Tiểu sử Đại sứ
    • Tổng Lãnh sự quán ở Thành phố HCM
    • Quyền được tiếp cận thông tin
      • Hà Nội
      • Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Ấn Độ - Việt Nam
    • Giới thiệu về Ấn Độ
      • Các bản đồ của Ấn Độ
        • Bản đồ chính trị
        • Ấn Độ và các nước láng giềng
        • Bản đồ tự nhiên
        • Các thành phố của Ấn Độ
      • Trang dữ liệu Ấn Độ
      • Lịch sử Ấn Độ
        • Lịch sử Ấn Độ
        • Chính thể
        • Nghệ thuật và Văn hóa
        • Ẩm thực
      • Kết nối với Ấn Độ
        • Chính Phủ
        • Truyền thông
    • Giới thiệu về Việt Nam
      • Các bản đồ của Việt Nam
        • Bản đồ hành chính
        • Bản đồ chính chị
      • Trang Dữ liệu về Việt Nam
      • Lịch sử Việt Nam
        • Lịch sử
        • Địa lý, Địa hình và Khí hậu
        • Hệ thống chính trị
        • Kinh tế
      • Kết nối với Việt Nam
        • Chính phủ
        • Truyền thông
    • Quan hệ song phương Ấn Độ - Việt Nam
      • Quan hệ về kinh tế
      • Quan hệ song phương về chính trị
  • Kinh Doanh
    • Kinh doanh ở Ấn Độ
      • Kinh doanh ở Ấn Độ
      • Chiến lược thâm nhập thị trường
      • Chính sách ngoại thương
      • Cơ cấu thuế Ấn Độ
        • Các thông tin liên quan đến hải quan
        • Thuế Dịch vụ
        • Thuế thu nhập
        • VAT & Thuế bán hàng
      • Phòng Thương mại
      • Hội đồng Xúc tiến Xuất khẩu
      • Danh mục Thương mại
      • Thực trạng nền kinh tế
    • Kinh Doanh ở Việt Nam
      • Tổng quan về khung pháp lý
      • Tổng quan về kinh tế Việt Nam
      • Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
      • Danh mục thương mại
      • Thương mại và đầu tư hai chiều
    • Báo cáo thương mại
  • Lãnh sự
    • Thị thực
      • Thông tin thị thực
      • Thủ tục làm thị thực
      • Lệ phí làm thị thực
      • Đơn xin làm thị thực
      • Câu hỏi thường gặp về cấp thị thực
    • Hộ chiếu
      • Thông tin hộ chiếu
      • Lệ phí làm hộ chiếu
      • Dịch vụ hộ chiếu và lãnh sự khác
      • Đơn xin làm hộ chiếu Ấn Độ
      • Chương trình PIO
      • Tờ khai hộ chiếu bị mất
      • Tờ khai tuyên thệ
    • Đăng kí của Ấn Kiều
    • Các dịch vụ khác
    • Chương trình Tìm về Nguồn cội
    • Trách nhiệm của Ấn Kiều với cha mẹ
  • Giáo dục
    • Giáo dục tại Ấn Độ
    • Sinh viên nước ngoài học tập tại Ấn Độ
    • Du học tự túc
    • Học bổng và các chương trình
      • Hợp tác Kinh tế và Kỹ thuật Ấn Độ (ITEC)
      • Chương trình Hợp tác Kỹ thuật của Kế hoạch Colombo
      • Chương trình ICCR CEP & chương trình GCSS
      • Chương trình Hợp tác Mekong – sông Hằng
      • Chương trình Tìm hiểu Ấn Độ (KIP)
      • Chương trình học bổng cho trẻ em Ấn Kiều
    • Sinh viên học tại Ấn Độ
    • Khoa học và Công nghệ
  • Du lịch
    • Ấn Độ
      • Tại sao nên đến Ấn Độ?
      • Thông tin chung về du lịch Ấn Độ
      • Đến thăm Ấn Độ
      • Du lịch chữa bệnh
      • Du lịch tôn giáo
      • Hành trình Phật đạo
      • Tàu cao tốc Mahaparinirvana
      • Bản đồ du lịch
    • Việt Nam
  • Trên trang
    Google
  • Kết nối với Ấn Độ
    • Chính Phủ
    • Truyền thông
  • Kết nối với Việt Nam
    • Chính phủ
    • Truyền thông
Xem toàn màn hình
Số người truy cập
2348817



Tổng quan về kinh tế Việt Nam

     Việt Nam là một nước đang phát triển với dân số đông, trong hơn 30 năm qua đang phải phục hồi khỏi sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát chỗ dựa về tài chính sau khi Liên bang Xô viết tan rã và sự cứng nhắc của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Sau nhiều năm với các cuộc chiến tranh kéo dài, trong hoàn cảnh bị cô lập về chính trị và trì trệ về kinh tế, Việt Nam đang nhanh chóng hòa mình vào dòng chảy chung của kinh tế và chính trị thế giới. Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách Đổi Mới (cải cách kinh tế), hướng tới một nền kinh tế thị trường. Trong môi trường tự do đầu tư, những nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới đang thể hiện rõ sự quan tâm chưa từng có đối với Việt Nam.


     Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Việt Nam đạt mức 8-9,5% trong suốt hơn mười năm cho đến năm 1997. Mặc dù vậy, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á, tốc độ tăng trưởng  của Việt Nam giảm xuống còn 5,8% năm 1998, 4,7% năm 1999 nhưng sau đó phục hồi và đạt mức 6,7% năm 2000, 7% năm 2002, 7,7% năm 2004, 8% năm 2006 và 8,5% năm 2007. Tăng trưởng công nghiệp đạt trung bình từ 12 đến 14% trong suốt hơn một thập kỉ vừa qua. Đại hội Đảng lần thứ 10 diễn ra năm 2005 đúc kết những mục tiêu kinh tế then chốt cho kết hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm 2006-2010 như sau:

      Tốc độ tăng trưởng GDP: từ 7,5 đến 8% / năm trong đó:

      - Nông, lâm, ngư nghiệp:                        3% đến 3.2% / năm.
      - Công nghiệp và xây dựng:                    9.5% đến 10.2% / năm.
      - Dịch vụ                                                      7.7% đến 8.2% / năm.

      Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạt 16% / năm

      Cơ cấu kinh tế năm 2010:

      - Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm             15% đến 16% GDP
      - Công nghiệp và xây dựng chiếm         43% đến 44% GDP
      - Dịch vụ chiếm                                          40% đến 41% GDP

     Các cơ quan chức năng Việt Nam một lần nữa thể hiện cam kết của mình về tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế. Chính phủ đã thực hiện cải cách cơ cấu tổ chức, điều cần thiết để hiện đại hóa nền kinh tế và sản xuất ra những mặt hàng công nghiệp có sức cạnh tranh cao hơn cũng như hướng về xuất khẩu. Việc Việt Nam gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và kí kết có hiệu lực Hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ vào tháng 12 năm 2001 đã tạo ra những sự thay đổi nhanh chóng hơn đối với thể chế kinh tế và thương mại của Việt Nam. Nó đồng thời sẽ tạo ra một cú hích quan trọng cho nền kinh tế và giúp đảm bảo tiến trình cải cách tiến tới tự do hóa. Bên cạnh đó, việc gia nhập các tổ chức trên cũng giúp Việt Nam tận dụng được sự lệch pha của Hiệp định dệt may, giúp xóa bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may và vải vóc đối với các thành viên của WTO từ 1 tháng 1 năm 2005. Tỉ lệ dân số sống dưới mức nghèo, được xác định bằng tỉ lệ dân số sống dưới mức 1 USD / ngày, đã giảm đáng kể và thấp hơn các nước khác như Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines. Việt Nam đang cố gắng tạo việc làm để đáp ứng nhu cầu của lực lượng lao động mỗi năm tăng hơn 1 triệu người, đồng thời hướng đến tỉ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm ở mức 7,5 đến 8% trong suốt 5 năm tới.

     Nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp. Khu vực đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam là hai khu vực nông nghiệp chủ yếu với những nông sản chính bao gồm gạo, hồ tiêu, đay, cao su, đường mía, cà phê, chè, cây họ lạc và thuốc lá. Nhờ những cải cách lớn trong lĩnh vực nông nghiệp, chẳng hạn việc áp dụng hình thức khoán, cùng với sự tăng lên của đầu tư trực tiếp, các ưu đãi về thuế và giá thu mua lương thực cao hơn từ Chính phủ, tổng sản lượng lương thực gia tăng lên đáng kể từ 1988 trở đi. 

     Một trong những tác động của sự phát triển quá nhanh của công nghiệp ở Việt Nam chính là việc đất nông nghiệp bị chuyển đổi sang đất khu công nghiệp. Điều  này phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế: tỉ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 20,6% năm 2006 xuống còn 24,5% năm 2000. (Ngành công nghiệp và dịch vụ đóng góp tới hơn 90% tổng tăng trưởng GDP năm 2007) Sản lượng chè, cà phề và cao su tự nhiên đã giúp đẩy mạnh xuất khẩu trong ngành nông nghiệp.  Nhu cầu tăng cao từ các thị trường nước ngoài cũng giúp củng cố thêm sức tăng trưởng của ngành ngư nghiệp. Hiện tại Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới, đứng thứ 2 sau Thái Lan về xuất khẩu gạo, thứ 2 sau Bra-xin về cà phê và sau Ấn Độ về hạt điều, đứng thứ tư thế giới về xuất khẩu cao su và thứ 7 thế giới về xuất khẩu chè. Chính phủ đang tập trung mạnh vào các cây hoa màu với tiềm năng xuất khẩu cũng như tập trung vào xây dựng ngành công nghiệp chế biến nông sản. Với mục đích khuyến khích nông dân đầu tư lâu dài và tăng năng suất, Luật Đất đai mới đã được kì họp Quốc hội vào tháng 7 năm 1993 thông qua, trong đó công nhận những quyền của nông dân trong việc trao đổi, chuyển giao, cho thuê và thừa kế phần đất đã được phân phối. Cơ cấu thuế cũng đã có thêm một số thay đổi liên quan đến chuyển giao quyền sử dụng đất để đảm bảo sự cân bằng trong mức thu thuế của chính quyền trung ương và địa phương. Mặc dù vậy, đất đai vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước, phù hợp với Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

     Các nhà đầu tư coi Việt Nam là điểm đến hấp dẫn thứ nhì trong khu vực sau Trung Quốc. Trong 7 tháng đầu năm 2008, đã có hơn 45,49 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI được cấp giấy chứng nhận đầu tư vào Việt Nam. Về tổng vốn cam kết, 654 dự án đầu tư mới đăng ký tổng vốn 43,7 tỉ USD và 188 dự án đang hoạt động quyết định tăng vốn với số vốn tăng thêm đạt 788 triệu USD. Tổng kim ngạch buôn bán trong 7 tháng đầu năm 2008 đạt 88,77 tỉ USD nhưng mức thâm hụt thương mại trong cùng khoảng thời gian cũng lên tới 15 tỉ USD.

     Tuy vậy, nếu so với thành tích tăng tỉ lệ tăng trưởng cao trong những năm gần đây thì tăng trưởng kinh tế đang chậm lại. Theo nguồn của chính phủ Việt Nam, trong quý hai năm 2008, GDP thực tế tăng chỉ 5,6% so với cùng kì năm ngoái, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2000. Đây cũng là kết quả của chính sách có tính toán từ trước giảm tăng trưởng của tín dụng nội địa nhằm kiềm chế lạm phát. Trong bảy tháng đầu năm 2008, chỉ số CPI tăng 19,78%. Nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) tăng 3% trong nửa đầu năm 2008, tăng nhẹ so với con số 2,8% trong nửa đầu năm 2007. Toàn ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng 7% trong hai quý đầu, giảm so với mức 9,9% đạt được nửa đầu năm 2007. Nguyên nhân chính của của sự suy giảm này chính là sự sụt giảm mạnh của ngành xây dựng. Sản xuất, mặc dù vậy, vẫn tăng trưởng tốt, đạt mức tăng 11,4% trong nửa đầu ngoái. Mặc dù mức tăng GDP khá khiêm tốn, sản lượng công nghiệp vẫn tiếp tục tăng vọt lên mức 16,5% trong nửa đầu năm 2008.

     Quan hệ kinh tế của Việt Nam đã được đa dạng hóa một cách rõ rệt và trao đổi kinh tế của Việt Nam với các nước láng giềng trong ASEAN, với Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Hàn Quốc, Australia và Singapore đã được mở rộng và tăng trưởng nhanh chóng. Một số ngân hàng nước ngoài đã được cấp giấy phép mở chi nhánh tại Việt Nam và rất nhiều trong số đó đã bắt đầu hoạt động ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Singapore, Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc chính là những nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam.

     Nhân tố then chốt giúp nền kinh tế Việt Nam phát triển chính là thương mại. Trong giai đoạn 2001-2007, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng mỗi năm 17,5%. Cả thành phần và chất lượng của các mặt hàng xuất khẩu được nâng lên trông thấy. Tỉ lệ sản phẩm công nghiệp trong các sản phẩm xuất khẩu tăng lên đáng kể. Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 18,8% mỗi năm. Kim ngạch xuất khẩu đạt 520 USD một đầu người. Mặc dù vậy, do phải nhập khẩu số lượng lớn cây trồng, thiết bị và vật liệu cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cho các dự án đầu tư nước ngoài nên thâm hụt thương mại đã tăng lên trong suốt 3 năm vừa qua. Quan hệ buôn bán với các nước bạn, đặc biệt là các nước khác trong khu vực được mở rộng.

     Sự tăng trưởng của khu vực tư nhân chính là một trong những đặc điểm nổi bật của sự phát triển kinh tế ở Việt nam trong suốt hơn một thập kỉ qua. Khu vực tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài đã chiếm hơn một nửa GDP năm 2007. Các ước tính sơ bộ chỉ ra rằng doanh nghiệp tư nhân tạo ra gần 90% trong tổng số 7,5 triệu việc làm được tạo ra trong suốt 5 năm từ 2001-2005. Một phần lớn trong số 1,6 triệu việc làm mới ở Việt Nam cần tạo ra mỗi năm từ 2006 đến 2010 được trông cậy vào khu vực tư nhân. Tuy vậy, việc thiếu lao động có tay nghề đã trở thành một vấn đề hiển hiện. Các nhà chức trách của các khu công nghiệp và khu chế xuất tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết các trường dạy nghề trong thành phố chỉ đáp ứng được khoảng 15% trong số lượng 500.000 công nhân mà ngành công nghiệp của thành phố có khả năng sẽ cần đến qua 2010.

     Về mặt chính sách, một chiến lược cải cách ngân hàng đã được Chính phủ dự thảo từ tháng 5 năm 2006. Ngân hàng Nhà nước Việt nam sẽ được chuyển đổi thành mô hình ngân hàng trung ương, được ủy thác cũng như có chức năng điều hành chính sách tiền tệ và giám sát các định chế tài chính. Đến năm 2010, các ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ được tái cấu trúc, cổ phần hóa hoặc tư nhân hóa một phần với nỗ lực cải thiện năng lực hoạt động của các ngân hàng này. Vào tháng 12 năm 2006, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt danh sách các công ty nhà nước sẽ cổ phần hóa trong giai đoạn từ 2007 đến 2010, bao gồm cả những công ty lớn như Việt Nam Airlines, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), v.v. Một số ngân hàng trong nước cũng đã chọn những ngân hàng lớn trên thế giới làm đối tác chiến lược. Hai ngân hàng nước ngoài là HSBC và Standard Chartered nhận giấy cấp phép vào tháng 9 năm 2008 để hoạt động tại Việt Nam như các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Đây là một bước tiến lớn, dỡ bỏ rào cản cho hai ngân hàng này t

     Thị trường chính khoán phát triển vượt xa sức mong đợi chỉ trong một vài năm gần đây. Một bộ luật liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng quán đã được thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1 năm 2007. Số công ty niêm yết tăng theo cấp số nhân và tổng giá trị thị trường tăng gấp gần 20 lần so với thời điểm năm 2005. Mặc dù vậy, từ năm 2007, thị trường cổ phiếu bắt đầu gặp phải những khó khăn và vẫn đang trong thời kì lao đao. Chỉ số giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh liên tục giảm điểm trong 9 tháng gần đây, từ mức khá cao gần 1100 điểm vào giữa tháng 10 năm 2007 xuống còn dưới 500 điểm tại thời điểm hiện tại. Giai đoạn bùng nổ ban đầu của thị trường cỏ phiếu cũng thúc đẩy nhiều công ty nhà nước phát hành cổ phần ra các nhà đầu tư hơn. Chi nhánh của một vài công ty nhà nước lớn trong các lĩnh vực như thủy điện cũng có đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng thành công.

     Việt Nam đang có những bước chuyển mình để cải thiện khả năng quản lý các doanh nghiệp và điều chỉnh thị trường. Số vốn tối đa mà bên nước ngoài có thể nắm giữ tại các công ty niêm yết tăng từ 30% lên 49%. Số lượng khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam đạt 4 triệu lượt năm 2007. Việt Nam đã kí các bản ghi nhớ hợp tác và các hiệp định với một số nước như Malaysia hay Ả rập Xê út về vấn đề xuất khẩu lao động.

Kinh tế Việt Nam qua những con số

I. Tăng trưởng công nghiệp (% tăng trưởng trên mức giá năm 1994)

Tổng Thành phần sở hữu
Nhà nước Tư nhân FDI
1996 14.2 11.6 11.5 21.7
1997 13.8 10.8 9.5 23.2
1998 12.5 7.7 7.5 24.4
1999 11.6 5.4 10.9 21.0
2000 17.5 13.2 19.2 21.8
2001 14.6 12.7 21.5 12.6
2002 14.8 12.5 18.3 15.2
2003 16.8 11.9 23.3 18.0
2004 16.6 11.9 22.3 17.4
2005 17.2 8.7 24.1 20.9
2006 17.0 9.1 23.9 18.8
1997 17.1 10.3 20.9 18.2

 

Nguồn: Tổng cục thống kê

II.  Xuất nhập khẩu của Việt Nam

Tỉ USD


Nguồn: Tổng cục thống kê



III: 10 nước và vùng lãnh thổ hàng đầu cho hàng xuất khẩu Việt Nam năm 2008

 

USD

Các địa chỉ nhập khẩu hàng đầu năm 2008


Các hàng hóa xuất nhập khẩu chủ yếu

VIệT NAM: Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu – 2008

Triệu USD

1 Dầu thô 10450
2 Dệt may 9108
3 Da giầy 4697
4 Hải sản 4562
5 Lúa gạo 2902
6 Đồ gỗ 2779
7 Điện tử, máy tính 2703
8 Cà phê 2022
9 Cao su 1597
10 Than đá 1444
11 Dây & cáp điện 1014
12 Khác 19622



VIệT NAM: Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu -  2008
 

1 Máy móc, thiết bị 13712
2 Xăng 10888
3 Théo 6566
4 Trong đó: phôi thép 1657
5 Điện tử, máy tính và linh kiên 3722
6 Nhựa 2924
7 Dệt may, da 2376
8 Hóa chất 1768
9 Thức ăn gia súc 1738
10 Chế phẩm hóa học 1607
11 Khác 33442

 


Xuất nhập khẩu dịch vụ năm 2008

 
 
Triệu USD 2008 so với 
2007 (%)

 
Cấu trúc
 2008 %

 
2007 2008
Dịch vụ xuất khẩu 6460 7096 109.8 100.0
Vận chuyển hàng không 1069 1322 123.7 18.6
Vận chuyển đường biển 810 1034 127.7 14.6
Bưu chính viễn thông 110 80 72.7 1.2
Du lịch 3750 4020 107.2 56.7
Tài chính 332 230 69.3 3.2
Bảo hiểm 65 60 92.3 0.8
Dịch vụ chính phủ 45 50 111.1 0.7
Khác 279 300 107.5 4.2
         
Dịch vụ nhập khẩu 7176 7915 110.3 100.0
Du lịch 1220 1300 106.6 16.4
Vận chuyển hàng không 820 800 97.6 10.2
Vận chuyển đường biển 250 300 120.0 3.8
Bưu chính viễn thông 47 54 115.7 0.7
Tài chính 300 230 76.7 2.9
Bảo hiểm 210 150 71.4 1.9
Dịch vụ chính phủ 40 50 125.0 0.6
Khác 1030 850 82.5 10.7
Giá C.I.F ước tính cho hàng nhập khẩu 3259 4181 128.3 52.8


 

 Nguồn: Tổng cục Thống kê

 

 

 

Tạp chí Ấn Độ toàn cảnh  (English version)
Văn hóa
Hội đồng Quan hệ Văn hóa Ấn Độ
Học viện Nhạc kịch Sangeet Natak
Học viện Nghệ thuật Kalakshetra



Một thoáng Ấn Độ
ProgressBar



Trang chủ |  Liên hệ |  Sơ đồ |  Quyền lợi |  Câu hỏi thường gặp |  Chính sách bảo mật
© 2009 Đại sứ quán Ấn Độ, Việt Nam
Đại sứ quán Ấn Độ, Việt Nam
Địa chỉ: 58 – 60 Đường Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Điện thoại: 84-4-38244989 và 38244990, Fax: 84-4-38244998
Thiết kế bởi : Active Group
Chú ý: Xin biết rằng trang này có liên kết dẫn tới website của các Bộ / Ban / Ngành.
Nội dung của các website được liên kết thuộc về các tổ chức trên, và bạn có thể liên hệ với họ để biết thêm thông tin hay để góp ý.