Hải quan Ấn Độ chuyên trách một số nhiệm vụ mà quan trọng hơn cả là các nhiệm vụ sau:
| i |
Thu các loại thuế hải quan đánh vào hàng xuất khẩu và nhập khẩu, theo các văn bản luật Hải quan (Luật Hải quan năm 1962 và Luật về Biểu thuế quan năm 1975); |
| ii |
Thực thi các điều khoản của Luật Hải quan điều chỉnh xuất nhập khẩu hàng hóa, hành lí, bưu phẩm và việc ra vào của tàu thuyền cũng như máy bay, v.v |
| iii |
Thực thi nhiều chức năng khác nhau của cơ quan và áp dụng việc cấm và hạn chế xuất nhập khẩu theo Luật Hải quan và các văn bản có liên quan; |
| iv |
Phòng ngừa buôn lậu, bao gồm cả ngăn chặn buôn lậu các loại ma túy; |
| v |
Xử lý các vấn đề liên quan đến hành khách quốc tế. |
Các điều khoản của Hiến pháp trao cho Liên bang quyền làm luật và thu thuế đối với hàng xuất khẩu và nhập khẩu phù hợp với mục SI số 83 thuộc khoản 1, phụ lục VII của Hiến pháp Ấn Độ. Luật Hải quan năm 1962 là Đạo luật cơ bản, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 2 năm 1963, chiểu theo Mục 12, cho phép đánh thuế đối với hàng hóa nhập khẩu hoặc xuất khẩu khỏi Ấn Độ. Danh mục hàng hóa và thuế suất áp dụng đã được ghi rõ trong hai Phụ lục của Luật Biểu thuế quan năm 1975. Phụ lục đầu tiên của Luật nói trên làm rõ các hạng mục khác nhau của hàng hóa nhập khẩu phân theo hệ thống và được cân nhắc kĩ càng, phù hợp với kế hoạch quốc tế về phân loại hàng hóa được buôn bán trên toàn thế giới, thường được gọi bằng thuật ngữ “Hệ thống hài hoà về phân loại hàng hoá”. Các mức thuế suất khác nhau được qui định bởi cơ quan lập pháp áp dụng trên các hàng hóa hay nhóm hàng hóa khác nhau được trình bày ở Phụ lục thứ nhất. Thuế được đánh dựa trên cả cơ sở đặc định hoặc theo trị giá, trong khi có rất ít trường hợp mà ở đó thỉnh thoảng thu được đồng thời cả hai loại thuế trên hàng hóa nhập khẩu. Phụ lục thứ hai của Luật Biểu thuế quan năm 1975 bao quát cả hàng hóa chịu thuế xuất khẩu và thuế suất tương ứng.
Trong khi thu thuế tính theo trị giá (tức là thuế liên quan đến giá trị) – hình thức đánh thuế có ưu thế nhất – giá trị của hàng hóa phải được xác định cho các mục đích thu thuế của hải quan, phù hợp với các điều khoản được nêu ra ở Mục 14 của Luật Hải quan và Quy tắc Xác định giá tính thuế (định giá của hàng hóa nhập khẩu) năm 1988 được ban hành kèm theo Luật này. Về bản chất, những điều khoản này được dựa trên hệ thống định giá của GATT và các văn bản quốc tế sau đó (nay là Hiệp định về Trị giá của WTO) và được đưa vào Luật của Ấn Độ năm 1988. Nhà nhập khẩu cũng như cơ quan thẩm định phải nghiên cứu kĩ và áp dụng những điều khoản này để thuế được xác định thích đáng theo giá trị hợp lý và đúng theo luật, trước khi hàng hóa ra khỏi cơ quan hải quan.
Điều khoản kiểm soát và điều chỉnh theo Luật Hải quan:
Để có thể quản lý được sự tăng lên của giao thông xuyên biên giới một cách đúng đắn và hiệu quả, cũng như để có thể quản lý được việc là hải quan sẽ kiểm tra tất cả hàng hóa, hàng khách, v.v nhập khẩu vào Ấn Độ hoặc xuất khẩu ra khỏi nước bằng đường biển, đường hàng không, đường bộ hay đường sắt (để đảm bảo sao cho tất cả hàng hóa và hành khách đều tuân theo các điều luật liên quan trước khi vào và ra khỏi Ấn Độ), Ấn Độ không cho phép tự do ra vào mà không có sự kiểm soát. Để phù hợp với thông lệ quốc tế, việc ra vào của hành khách và phương tiện vận tải, v.v vì thế phải được điều chỉnh bằng luật pháp, và Luật Hải quan năm 1962 là văn bản pháp quy cơ bản chi phối, điều chỉnh hoạt động ra vào Ấn Độ của các hạng mục tàu thuyền, hàng hóa, hành khách khác nhau, v.v.
Theo Luật Hải quan, Chính phủ được trao quyền bố trí hải quan tại các cảng và sân bay, những địa điểm duy nhất có thể đưa hàng hóa nhập khẩu vào để bốc dỡ, hay chuyển hàng hóa xuất khẩu lên tàu. Chính phủ cũng có quyền công bố địa điểm duy nhất đặt Trụ sở Hải quan trên đất liền để thông quan hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa xuất khẩu trên đất liền hoặc bằng đường thủy nội địa. Ngay cả các tuyến qua lại ở trên bộ hay đường thủy nội địa vào ra Ấn Độ cũng có thể được điều chỉnh, và những điều khoản này đã được sử dụng đặc biệt để điều chỉnh giao thông cho những nước láng giềng của Ấn Độ như Nê-pan.
Những quyền lực phù hợp cũng đã được ban bố để tiếp tục phê chuẩn các vị trí cụ thể, tại cảng hải quan và sân bay hải quan - nơi duy nhất mà việc dỡ hàng và bốc hàng có thể được diễn ra, cũng như xác định giới hạn khu vực hải quan (về mặt bản chất, đó là khu vực thuộc cảng hải qua, sân bay hải quan hay trạm hải quan trên đất liền) làm nơi lưu giữ hàng hóa nhập khẩu trước khi được thông quan bởi các cơ quan hải quan có chức năng.
Vai trò của giám hộ viên
Đối với việc nhập khẩu bằng đường biển và đường không, Cơ quan Hải quan sẽ ủy quyền và chỉ định “giám hộ viên” và tất cả các hàng hóa bốc dỡ ở khu vực hải quan sẽ được giữ lại trong quyền kiểm soát của giám hộ viên này trước khi được thông quan để tiêu thụ trong nước, hoặc nhập kho hay chuyển tàu theo như luật quy định. Cùng với gia tăng lưu thông hàng hóa bằng công-ten-nơ, cơ sở vật chất cho thông quan ở những trung tâm trong nước đã được cung cấp bằng cách mở ra các Kho Lưu trữ công-ten-nơ nội địa (ICD) hoạt động như những Cảng đất liền. Hàng hóa cũng được chuyển tới những cảng đất liền này và được lưu lại với giám hộ viên đã được chỉ định cho đến khi thủ tục thông quan được hoàn thành. Giám hộ viên, sau khi đã chở hàng hóa từ phương tiện vận tải về, sẽ phải sắp xếp chỗ lưu kho thích đáng, an toàn, và chỉ cho phép người nhập khẩu thông quan khi đã hoàn thành đầy đủ các thủ tục hải quan, trả hết những khoản thuế bắt buộc và những khoản phí, và thanh toán các khoản nợ trước khi hàng hóa của họ được cho phép vào đất nước, và Hải quan đã cho phép thông quan hàng hóa ra khỏi khu vực kiểm soát hải quan.
Các công ty phụ trách cảng, cơ quan chức trách trong khu vực công cộng và tư nhân khác nhau xử lý hàng hóa xuất nhập khẩu trong thời gian giữ để giám hộ tại cảng, sân bay quốc tế và kho lưu trữ công-ten-nơ nội địa khác nhau. Việc xử lý và giám hộ hàng hóa ở cảng hàng không quốc tế nói chung được giao cho Cơ quan Cảng Hàng không Quốc tế của Ấn Độ. Một số khu liên hợp lưu giữ hàng hóa đã được xây dựng ở hầu hết các cảng hàng không quốc tế với các trang thiết bị kho vận thích hợp cho việc lưu giữ hàng hóa nhập khẩu chờ thủ tục thông quan. Để tạo điều kiện thuận lợi, các kho lưu trữ công-ten-nơ nội địa đang được mở ở các khu công nghiệp khác nhau như được quy định chi tiết trong hướng dẫn của Chính phủ, và số trường hợp thông quan tại các trung tâm nội địa cho cả hàng xuất khẩu lẫn nhập khẩu đã tăng vọt trong vài năm trở lại đây.
Hiện nay thì các cảng biển khác nhau đang phải xử lý tối đa lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Ngày càng nhiều lượng hàng hóa nhập khẩu từ một số cảng như Nhava Sheva đã phải chuyển sang các kho lưu trữ công-ten-nơ nội địa để hoàn thành thủ tục thông quan cuối cùng cho các nhà nhập khẩu gần như là tại chỗ luôn. Những cảng có khu vực tàu đậu lớn và được đảm bảo che chắn thì phải bố trí lực lượng bảo vệ để đảm bảo sao cho không xảy ra trộm cắp hay vận chuyển hàng hóa ra khỏi cảng trước khi thông quan. Các nhà chức trách cảng phải lo xử lý thủ tục bắt buộc cho việc bốc và dỡ hàng hóa ở những nơi tàu neo đậu khác nhau của cảng cũng như việc di chuyển hàng tới nhiều địa điểm khác nhau, bao gồm bãi công-ten-nơ hay nhà kho v.v. Các cảng triển khai một lực lượng lao động lớn cùng với các thiết bị lưu giữ khác nhau làm từ vật liệu hiện đại để di chuyển hàng hóa mà phần lớn được đóng công-ten-nơ. Theo như những điều khoản của Luật Hải quan, giám hộ viên là người bị buộc phải đảm bảo hàng hóa được lưu giữ an toàn cho đến khi chuyển đồ, và thực tế, nhiều loại thuế hàng hóa nhập khẩu bị thiếu cũng được Cơ quan Hải quan thu lại từ các giám hộ viên.
Văn phòng và cơ sở vật chất cần thiết của các cơ quan Hải quan được bố trí thích hợp ở khu vực tàu neo đậu cũng như ở các khu liên hợp lưu trữ hàng hóa quốc tế hay kho lưu trữ công-ten-nơ nội địa v.v. để thực hiện chức năng của mình đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, như giám sát việc bốc hoặc dỡ hàng hóa từ tàu hay máy bay, giám sát việc chất hoặc dỡ hàng vào trong công-ten-nơ, giám hộ và kiểm tra theo đúng quy định hàng hóa nhập khẩu, hay chuẩn bị xuất khẩu trước khi làm thủ tục thông quan…
Luật hải quan và Nghĩa vụ của Tàu chở
Nhằm điều hành, kiểm soát một cách hiệu quả và thích đáng các hoạt động xuất nhập khẩu, Luật Hải quan đã đưa ra một số ràng buộc nhất định đối với tàu chuyên chở. Theo đó, tàu chở hàng chỉ được mang hàng hóa vào trong đất nước để bốc dỡ ở những cảng, sân bay, hoặc khu vực hải quan được chỉ định như đã nói. Một nghĩa vụ khác mà chủ tàu phải thực hiện đó là cung cấp thông tin chi tiết cho Hải quan về hàng hóa được tàu, máy bay của mình đưa vào bất kì một cảng/sân bay nào đó để dỡ hàng tại cảng/sân bay đó, cũng như về hàng hóa mà sau đó có thể sẽ đem đi đến cảng/sân bay khác. Việc khai báo hàng hóa phải được làm theo mẫu đơn quy định có tên là Bản Kê khai chung Hàng hóa Nhập khẩu (IGM). Việc khai báo và nộp bản Kê khai này phải được thực hiện trong vòng 24 giờ kể từ khi tàu chở hàng đến khu vực Hải quan. Trong trường hợp nhập khẩu qua đường Hải quan trên đất liền, người chủ của phương tiện vận tải sẽ phải nộp một bản báo cáo tương tự. Do thủ tục kiểm tra hàng hóa nói chung có liên quan tới thông tin hiện hữu về loại hàng hóa mà tàu chở vào để dỡ xuống ở bất cứ cảng nào, nên các điều khoản của luật cũng cho phép đệ trình trước IGM, nếu như tất cả các thông tin chi tiết về hàng hóa có liên quan tại cảng nào đó đã được thu thập thậm chí trước cả khi tàu chở cập cảng. Bản Kê khai cuối cùng sẽ được làm lại sau khi tàu cập cảng.
Trong trường hợp thông thường, nếu những thông tin chi tiết nói trên và IGM không được làm theo đúng bản mẫu thì không một tàu chở, máy bay hay phương tiện vận tải nào khác được phép dỡ hàng. Sau khi bản Kê khai đã được đệ trình thì hàng hóa mới được bốc dỡ dưới sự giám sát của nhân viên bảo vệ của cơ quan Hải quan. Luật cấm bốc dỡ bất kì loại hàng hóa nào ở một cửa khẩu hải quan, nếu không được nêu trong bản Kê khai hoặc Báo cáo nhập khẩu. Tương tự như vậy, cũng có những hạn chế đối với việc bốc hàng xuất khẩu. Không một tàu thuyền hay máy bay nào được phép bốc hàng để xuất khẩu, chừng nào cơ quan Hải quan chưa được thông báo và cấp phép bốc hàng (gọi là “Nhập ở bên ngoài phương tiện chuyên chở”). Tất cả việc bốc hàng được nêu trên lên tàu (hay thậm chí là máy bay) đều phải được kiểm tra và giám sát bởi nhân viên bảo vệ của Hải quan. Các nhân viên này nhất thiết phải đảm bảo sao cho hàng hóa được bốc đã qua tất cả các thủ tục hải quan theo quy định, như là đã đóng những loại thuế bắt buộc, và đã qua bất cứ thủ tục nào theo quy định của Luật trước khi xuất khẩu, đồng thời giấy phép của người xuất khẩu đã được cấp đúng thời hạn bởi bộ phận thẩm định đóng chốt ở khu tàu neo đậu/khu liên hợp lưu trữ hàng hóa/khu lưu trữ công-ten-nơ nội địa, như là một phần trong các thủ tục thông quan.
Người chịu trách nhiệm về tàu chở/máy bay cũng buộc phải cung cấp thông tin chi tiết về hàng hóa chất trên tàu hay máy bay của mình trên một mẫu đơn khác có tên là Bản Kê khai chung Hàng Xuất khẩu (EGM). Bản Kê khai ấy có thể dược hoàn thành trước khi tàu/máy bay rời cảng, hoặc trong vòng 7 ngày kể từ khi tàu/máy bay xuất phát, đồng thời đó nhất thiết cũng là bằng chứng cuối cùng cho việc chuyên chở/xuất khẩu khi mà tàu chở/máy bay rời đất nước. Những điều khoản tương tự cũng được áp dụng đối với xuất khẩu qua đường bộ, nhưng bản kê khai xuất khẩu được gọi là bản “Báo cáo xuất khẩu”.
Kiểm soát bảo vệ
Cần lưu ý là không một phương tiện vận tải nào được phép rời trạm Hải quan cho đến khi Hải quan có chức trách ban hành một lệnh bằng văn bản về thông quan tại cảng, cho phép phương tiện được rời đi. Giấy phép xuất phát cho bất kì một tàu chở nào chỉ được trao nếu nhân viên Hải quan thấy hài lòng rằng, tất cả các thủ tục bắt buộc đã được hoàn tất, như đã nộp thuế và tiền phạt chẳng hạn. Nhân viên bảo vệ cũng được ủy quyền lên tàu/máy bay để thu nhận tờ khai báo phù hợp, danh sách tài sản của đội tàu/phi hành đoàn… và để kiểm tra xem, liệu có còn hàng hóa nào mà Bản Kê khai chưa đề cập tới để bốc dỡ ở cửa khẩu nhất định, nhằm phục vụ ý định buôn lậu, trốn tránh các thủ tục bắt buộc và việc nộp thuế hay không. Một cuộc kiểm tra tàu/máy bay kĩ lưỡng cũng sẽ được tiến hành – thường thường là trên cơ sở chọn lựa - bởi các nhân viên rà soát, có tính đến yếu tố như lịch sử của con tàu trong quá khứ, khu vực/đất nước mà con tàu xuất phát, hay tin tức tình báo v.v.
Các nhân viên bảo vệ của Hải quan cũng bố trí gác ngày đêm cẩn thận ở khu vực cảng để kiểm tra bất kì hành động phi pháp nào và phát triển hệ thống đặc vụ nhằm ngăn chặn mọi âm mưu rời tàu khỏi cảng mà không phép, hay bốc dỡ hàng hóa không được kê khai v.v.
Thông quan hàng hóa
Trước khi bất kì hàng hóa nào – đã nhập khẩu và lưu giữ với giám hộ viên như đã nêu ở trên – được thông quan ngay lập tức để phục vụ tiêu dùng gia đình trong nước, hay để đưa vào kho hoặc qua các thủ tục hải quan khi cần thiết, người nhập khẩu phải tuân thủ tất cả các thủ tục thông quan theo quy định. Về cơ bản, thì điều này đòi hỏi phải xuất trình một số chứng từ nhất định đi kèm với mẫu đơn quy định (thường được gọi là “hóa đơn nhập”, cung cấp thông tin cơ bản liên quan tới hàng nhập khẩu, nước xuất xứ, thông số của tàu/máy bay…) yêu cầu kiểm tra hải quan hàng hóa để tiêu dùng gia đình hoặc đưa vào kho. Người nhập khẩu có thể tự mình xử lý các chứng từ thông quan nhập khẩu cùng với Cơ quan Hải quan, hoặc có thể chỉ định một đại diện ủy quyền của mình ở tại Cơ quan Hải quan. Phần lớn công việc thông quan là do Đại diện Hải quan (CHA) xử lý thay mặt cho người xuất nhập khẩu – đó là những người được đào tạo kĩ lưỡng và có kinh nghiệm trong công tác thông quan, được Hải quan cấp phép hoạt động đó dựa, theo những điều kiện nhất định Quy chế Đại diện Hải quan (CHA).
Việc xuất trình và xử lý chứng từ thông quan được thực hiện ở Cơ quan Hải quan chính, - nơi đó các nhân viên được đào tạo về các vấn đề kiểm định (nhân viên kiểm định) xử lý các công tác kiểm tra hải quan hàng nhập khẩu. Sau khi đã kiểm kê hàng hóa dựa theo IGM để đảm bảo hàng hóa chờ kiểm tra đã tới nơi và được khai báo ở Bản Kê khai nhất định của tàu chở/máy bay đề cập tới trong Nhập cảnh (hoặc ngay cả trong trường hợp Bản Kê khai trước đó đã được đệ trình, nói rằng hàng hóa này đang được bốc xuống bởi một tàu nhất định), thì các văn bản này sẽ được soi xét kĩ lưỡng, bằng cách thủ công hoặc qua hệ thống EDI. Một trong những chức năng chủ yếu của nhân viên kiểm định ở Cơ quan Hải quan là phải kiểm tra cẩn thận việc nhập cảnh và các thông số liên quan, cũng như thông tin của các văn bản khác nhau nhằm kiểm tra khả năng được phép nhập khẩu đứng về góc độ của Chính sách về xuất nhập khẩu và các luật điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu. Công việc này càng trở nên quan trọng hơn, đặc biệt là sau khi tự do hóa cơ chế nhập khẩu, đang quyết định sự phân loại cũng như các loại thuế đánh vào các hàng hóa nhập khẩu (Cơ bản, Bổ sung, Chống phá giá, Bảo vệ..) và giá trị hàng hóa (trong trường hợp thuế này được định giá theo cơ sở giá trị), để định giá khoản tiền thuế mà người nhập khẩu phải trả. Người ta cũng kiểm tra và quyết định khả năng được phép thu lợi khác nhau từ thủ tục thông quan miễn phí, theo các chương trình khác nhau, hay khả năng áp dụng các khoản lợi từ bất cứ việc thông báo về miễn trừ nào, nếu được yêu cầu.
Để xác định khoản thuế phải nộp và thậm chí cả khả năng được phép nhập khẩu, việc kiểm tra trước hàng hóa có thể sẽ trở nên cần thiết. Tuy nhiên, thông thường người ta sẽ xem xét các bản đã nộp mà không cần kiểm tra trước liên quan tới các tài liệu đã có và những thông tin khác về giá trị/phân loại đã có ở Cơ quan Hải quan, đồng thời khi những khoản thuế được đánh lên hàng hóa đã được người nhập khẩu hay người đại diện nộp xong. Chỉ đến khi nào hàng hóa được đưa ra khỏi sự lưu giữ của các nhà chức trách ở cảng hay sân bay quốc tế hay của các giám hộ viên khác, thì việc kiểm tra hàng hóa theo cơ sở phần trăm mới được tiến hành. Để đẩy nhanh các thủ tục định giá và thông quan, nhân viên chuyên biệt kiểm tra các công việc liên quan tới thẩm định giá sẽ đóng chốt ở Cơ quan Hải quan cũng như ở nhà kho nơi lưu giữ hàng hóa chờ thông quan, sau đó nhân viên này sẽ giám hộ việc kiểm tra tính chất của hàng hóa, định giá hàng hóa và các phần khác trong Khai báo, hoặc lấy mẫu nếu như được lệnh của viên chức rà soát thuộc Cơ quan Hải quan/Khu liên hợp lưu giữa hàng hóa/Khu lưu giữ công-ten-nơ nội địa.
Trong phần lớn các trường hợp, việc định giá được hoàn thành và thuế được trả mà không cần có kiểm tra trước. Nếu nhân viên thẩm định không phát hiện ra sai biệt về tính chất, số lượng và giá trị của hàng hóa tại thời điểm kiểm tra tàu chở ở bến/khu tàu đỗ, v.v. thì người ta sẽ phát lệnh “đã qua kiểm soát hải quan”. Từ đó hàng hóa có thể được thông quan sau khi trả các loại phí của giám hộ viên.
Trong trường hợp, việc kiểm tra trước đôi khi trở nên cần thiết trước khi việc thẩm định được hoàn tất hay khả năng cho phép nhập khẩu được quyết định, thì hàng hóa sẽ được kiểm tra trước, sau khi hóa đơn nhập và những chứng từ khác đã được hoàn thành. Dựa trên bản báo cáo của nhân viên kiểm định, người ta định mức thuế và nếu không có vi phạm điều khoản cấm nào về phương thức thanh toán thuế, thì hàng hóa được đem ra khỏi nơi lưu giữ mà không cần phải kiểm tra gì thêm.
Trong trường hợp tranh chấp xảy ra do phân loại/định giá hay xảy ra vi phạm của bất cứ một điều khoản nào đã được quy định, trong trường hợp hàng hóa không được phép làm thủ tục thông quan cuối cùng mà không tiến hành kiểm tra thêm và phải tiến hành các thủ tục kiện cáo – trong trường hợp cần thiết, thì luật và các chỉ thị thậm chí cho phép thông quan tạm thời với điều kiện là phải có tiền thế chấp hợp lí. Chỉ khi hàng hóa có tính chất bị cấm, hoặc trong trường hợp ngoại lệ nhất định, khi người ta thấy không nên giải phóng hàng tạm thời thì quyết định cuối cùng sẽ được đưa ra, sau khi kết quả điều tra đã được biết, hoặc trong trường hợp các thủ tục kiện tụng đã được hoàn thành.
Hàng hóa xuất khẩu cũng phải qua các thủ tục thông quan tương tự, bằng cách xuất trình hóa đơn vận tải biển và các chứng từ khác có liên quan cho bộ phận xuất khẩu của Cơ quan Hải quan hay của Trung tâm Dịch vụ EDI. Nhân viên thẩm định của Cơ quan Hải quan/Khu liên hợp Hàng hóa Hàng không sẽ kiểm tra các khai báo để định giá thuế nếu có, tính thích đáng của đãi ngộ xuất khẩu trong trường hợp được người xuất khẩu đòi hỏi, theo nhiều chương trình khác nhau như hoàn thuế hay miễn thuế… Lệnh kiểm tra thích hợp cho hàng hóa trước khi được phép vận chuyển sẽ được ban hành khi có hóa đơn vận tải biển. Nhân viên tại cảng/Khu liên hợp lưu giữ hàng hóa/Kho lưu giữ công-ten-nơ nội địa sẽ kiểm tra hàng hóa được phép xuất khẩu trên cơ sở phần trăm, và cho phép vận chuyển, nếu không thấy có sự không nhất quán hay khai báo sai nào và không có điều gì cấm kỵ hay vi phạm nào. Những hình phạt thích ứng theo quy định của pháp luật sẽ được áp dụng khi hành động lừa đảo bị phát hiện trong giai đoạn đầu của việc rà soát hay trong quá trình kiểm tra.
Vì vậy, những điều khoản đã nêu trên và các chức năng khác nhau của Hải quan thực chất là để đảm bảo sao cho tất cả hàng hóa vào Ấn Độ đều phải đi qua các điểm kiểm soát, được khai báo cho Cơ quan Hải quan, đồng thời nhà nhập khẩu mặt hàng đó phải hoàn thành các yêu cầu về thủ tục và pháp lý quy định trong Luật Hải quan và các luật liên quan, phải trả hết các khoản thuế bắt buộc (nếu có) trước khi hàng hóa được nhập cảnh vào đất nước.Tương tự như vậy, những điều khoản này cũng giúp Cơ quan Hải quan điều hành được dòng xuất của hàng hóa ra khỏi đất nước, và cho phép họ kiểm tra đầy đủ hàng hóa trước khi xuất ra khỏi đất nước qua đường biển/hàng không/bộ/tàu hỏa. Những điều khoản đó cũng giúp phát hiện ý đồ buôn lậu hay gian lận thương mại của những thành phần vô lương.
Buôn lậu, vi phạm và các điều khoản xử phạt:
Các thành phần vô lương luôn tìm cách trốn các khoản thuế bắt buộc cũng như tránh nhiều điều khoản cấm hoặc giới hạn liên quan đến nhập khẩu, bằng cách mang hàng hóa vào Ấn Độ bằng các con đường khác, không qua trình báo với Hải quan thay vì phải qua cảng, sân bay, Trạm Hải quan đã được thông báo trước. Trường hợp này cũng tương tự với việc đưa hàng hóa ra khỏi quốc gia một cách trái phép. Về bản chất, hành động này được định nghĩa là “buôn lậu”, và cán bộ Hải quan đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo sao cho phát hiện ra được bất cứ hành động buôn lậu vào trong nước hay ra nước ngoài nào như thế, cũng như có biện pháp thích đáng đối với hàng lậu và người tham gia vào buôn lậu, hoặc vi phạm các điều cấm hay hạn chế nhằm trục lợi cá nhân, gây tổn thất cho Ngân khố Quốc gia mà không chú ý tới ảnh hưởng tiêu cực khác do mặt hàng nhạy cảm hay bị cấm có thể gây ra, nếu như chúng được phép mang vào đất nước. Luật pháp quy định các hình phạt khắt khe đối với cả người và hàng buôn lậu, bao gồm cả việc tịch thu toàn bộ mặt hàng cấm, phạt tiền và phạt khác đối với cá nhân vi phạm hoặc tiếp tay vi phạm. Luật cũng cho phép Cơ quan Hải quan tiến hành điều tra, bắt giữ và truy tố cá nhân nào có dính líu tới buôn lậu, gian lận thương mại nghiêm trọng, trốn tránh thuế, lạm dụng đãi ngộ xuất khẩu bằng các hành động gian lận (khai báo sai về tính chất hàng, giá trị hàng, hoặc thông báo sai về mặt số lượng…)
Luật Hải quan có các điều khoản phạt răn đe cho những vi phạm trên, nhưng phải tuân thủ theo quy trình pháp lý thích đáng trước khi áp dụng bất cứ biện pháp nào đối với hàng vi phạm hoặc cá nhân có dính líu. Cán bộ Hải quan phải ứng xử gần như quan tòa; trách nhiệm pháp lý đối với các thứ thuế mà cá nhân đã trốn nộp hay tìm cách trốn nộp, các loại phạt v.v. được phán xử thông qua một thủ tục xét xử mà theo đó, cá nhân có liên quan được thông báo kịp thời về biện pháp phán xử dự định dành cho mặt hàng/cá nhân/phương tiện vận chuyển v.v., bao gồm cả nội dung cơ bản và cơ sở của lời buộc tội, cá nhân đó được tạo điều kiện để đến trình diện cũng như tham dự xét xử cá nhân. Cán bộ Hải quan ở các cấp bậc được ấn định khác nhau đều có quyền phán xử này.
Đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng, Luật Hải quan cũng cho phép truy tố phạt tù đến 7 năm, nhưng phải được thực hiện tuân theo các thủ tục tố tụng hình sự thông thường tại Tòa án, sau khi cán bộ Hải quan đã khởi tố.
Phương thức kháng án:
Các bên nếu không đồng tình với cơ quan quyền lực thì có quyền được kháng án lên cơ quan quyền lực cao hơn (Cao ủy Kháng án) hoặc tòa án độc lập cấp cao hơn. Về vấn đề pháp lý, quyết nghị của tòa án cũng có thể được xem xét để chuyển lên cho Tòa Phúc thẩm, và đối với một số loại quyết định nhất định có liên quan đến vấn đề phân loại và đánh giá thì có thể được kháng án lên thậm chí cấp Tòa án Tối cao
Thủ tục hành khách:
Bên cạnh các chức năng liên quan tới điều chỉnh/kiểm soát/ thông quan xuất nhập khẩu hàng hóa, thủ tục hành khách quốc tế cũng là một lĩnh vực hoạt động được cơ quan Hải quan Ấn Độ thực hiện. Tất cả hành khách vào Ấn Độ, sau khi đã được cấp phép nhập cảnh đều phải qua kiểm tra Hải quan – Hải quan có nhiệm vụ rất nặng nề là đảm bảo sao cho thủ tục nhập cảnh cho hành khách được nhanh chóng nhất và thuận lợi tối đa. Đồng thời, người nhập cảnh cũng không được cố nhập lậu vào Ấn Độ hàng hóa nhạy cảm, bị cấm/hạn chế, hoặc trong trường hợp phải chịu khoản thuế lớn mà cá nhân đó tìm cách trốn bằng cách tránh khai/khai gian với Hải quan. Tương tự như vậy, mặc dù thuế là không cần thiết đối với người xuất cảnh, nhưng Cơ quan Hải quan cũng phải bảo đảm sao cho người xuất cảnh sẽ không mang lậu ra ngoài đất nước ngoại tệ, đồ cổ, động vật hoang dã hay những đồ cấm, ma túy hay các chất tác động tâm thần – vì trong vài năm trở lại đây, việc kiểm tra buôn lậu chất gây nghiện đã được chú trọng hơn rất nhiều. Cơ quan Hải quan cũng phải bảo đảm thực thi những quy định luật pháp có liên quan, trước khi bất cứ loại hàng nào được hành khách mang theo trên người, hành lí xách tay và hành lý gửi được mang vào hay ra khỏi Ấn Độ.
Xuất nhập khẩu qua đường bưu điện/chuyển phát:
Một vai trò quan trọng khác nữa của Cơ quan Hải quan, mặc dù không dễ dàng nhận ra, là hợp tác mật thiết với ngành Bưu điện và thực hiện thông quan Hải quan sau khi đã kiểm tra kĩ lưỡng, trên cơ sở tuyển chọn các mặt hàng khác nhau gửi dưới hình thức bưu kiện v.v. Cơ quan Hải quan phải đảm bảo sao cho những thư, gói và kiện gửi theo đường bưu điện được đưa vào đất nước theo đúng quy định của Luật Hải quan. Đối với các kiện hàng – trừ khi nằm trong danh mục hạn mức quà gửi miễn thuế hay hàng mẫu miễn thuế – Hải quan phải xác định mức thuế và báo cho Bưu điện. Thuế này được thu trước khi bên Bưu điện gửi hàng tới người nhận. Cuối cùng, điều cần được biết là, cách gửi những mặt hàng xuất nhập khẩu kích thước nhỏ qua đường chuyển phát đang trở nên phổ biến ở Ấn Độ, do vậy cơ quan Hải quan phải áp dụng thích ứng những điều khoản trong Quy định, để đảm bảo sao cho hàng hóa mang vào đất nước qua đường chuyển phát được thông quan nhanh chóng – hoàn thành việc thu thuế nhập khẩu, trước khi những mặt hàng này được gửi đến tay người nhận. Những quy định đã được xây dựng sẽ được xem xét để điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu đang đổi thay của thương mại, công nghiệp cũng như cộng đồng dân cư nói chung.
Trên đây là một số lĩnh vực hoạt động cơ bản của Cơ quan Hải quan Ấn Độ. Như ta có thể thấy, công việc của Cơ quan Hải quan bao quát tới những lĩnh vực hoạt động lớn có tác động tới thương mại, công nghiệp và công chúng nói chung. Nhân viên Hải quan phải tiếp xúc với hành khách quốc tế, công chúng nói chung, giới xuất nhập khẩu, thương nhân và nhà sản xuất, các hãng vận tải, các nhà chức trách của cảng và sân bay, Bưu điện, và các cơ quan của Chính phủ, bán Chính phủ, các ngân hàng khác nhau v.v. Giới xuất nhập khẩu phải hiểu rằng, các cơ quan khác nhau tham gia vào một khâu nào đó trong công tác thông quan liên quan tới vận chuyển hàng hóa. Ngay cả các thủ tục liên quan tới hành khách quốc tế và việc thông quan nhanh chóng cũng phải phụ thuộc vào đơn vị khác nhau làm việc ở sân bay. Cơ quan Hải quan Ấn Độ rất ý thức những nhiệm vụ nặng nề của mình, và đang tự giác cố gắng trong những năm qua nhằm hợp lý hóa và hiện đại hóa hơn các thủ tục Hải quan trong quá trình thông quan cho hàng hóa và hành khách. Ấn Độ là một thành viên tích cực của Tổ chức Hải quan Thế giới và đã thông qua rất nhiều Quy ước và thủ tục Hải quan quốc tế; Hệ thống Phân loại hài hòa, hệ thống Đánh giá dựa trên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) trong việc đánh giá v.v. Ấn Độ đang chuyển biến nhanh chóng theo hướng tự động hóa toàn bộ của công tác kiểm tra xuất nhập khẩu. Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange System) phục vụ thông quan cho hàng xuất nhập khẩu và giải ngân việc hoàn thuế… đã được đưa vào sử dụng từ năm 1995 và tới nay đã được áp dụng ở 23 trạm/đồn hải quan và các ICD (bao quát gần như 90% lượng hàng hóa). Với Dự án Cổng Hải quan – đang ở giai đoạn thực hiện nghiêm túc, tiến triển – thì cho đến cuối năm hay tháng 1 năm 2002 sẽ có thể có được sự liên kết trong hoạt động giữa tất cả các trạm Hải quan, và trong một tương lai không xa thì công tác kiểm tra hải quan sẽ được tăng tốc một cách đáng kể.
Tại Ấn Độ, Hải quan đã được cam kết trong Hiến chương Công dân nhằm cung cấp cho ngành thương mại và công nghiệp điều kiện thực hiện thủ tục hải quan một cách nhanh chóng, đúng hạn, xử lý khiếu nại nhanh chóng, đồng thời giáo dục các nhân viên Hải quan có tinh thần phục vụ lịch sự, hiểu biết, liêm chính, khách quan và trong sạch. Các bước đi đang được tiến hành nhằm chuyên nghiệp hóa hơn nữa Cơ quan Hải quan để có thể đem lại cho khách hàng dịch vụ hiệu quả và kịp thời, theo kịp được với dịch vụ hải quan của các nước phát triển.
Hội đồng Quyết định Cao cấp
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà nước ngoài, trong thời gian gần đây Chính phủ Ấn Độ đã tiến hành một số biện pháp, trong đó có việc thiết lập Hội đồng Quyết định Cao cấp, Thuế hàng hóa nội địa, Hải quan và Dịch vụ nhằm đảm bảo thực thi pháp luật, trước mắt là với Thuế hàng hóa nội địa và các vấn đề về Thuế Hải quan và Dịch vụ áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Ấn Độ. Các điều khoản pháp lý của Quyết định Cao cấp đã được đưa vào thực hiện thông qua Luật Tài chính năm 1998, 1999 và 2003. Mô hình Quyết định Cao cấp có một ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) được chú trọng hơn nhiều. Quyết định Cao cấp mang lại sự chắc chắn lớn hơn cho nhà đầu tư nước ngoài về phương diện khoản nợ thuế gián tiếp sắp tới.
Quy trình nhận được một quyết định rất đơn giản, ít tốn kém và minh bạch (chỉ tốn 2500 Rupee cho mỗi đơn xin, được đóng qua hối phiếu yêu cầu). Quy trình để xin được một quyết định cũng rất nhanh gọn, vì theo như luật định, Hội đồng phải công bố quyết định trong vòng 90 ngày kể từ khi nhận được đơn xin xét duyệt. Quyết định được thông báo sau khi giải trình trước Hội đồng và phải tuân theo các quy phạm pháp quy khác đã được thông qua. Quyết định Cao cấp do Hội đồng công bố có giá trị pháp lý đối với nhân viên Hải quan chịu trách nhiệm đánh giá hàng hóa và dịch vụ, cũng như người đứng đơn xin, và vì thế mà sẽ loại trừ mọi khả năng tranh chấp và kiện tụng có thể xảy ra. Nếu quyết định chỉ được cấp cho người đứng đơn thì nó chỉ có giá trị pháp lý đối với riêng trường hợp người đó. Hơn nữa, cơ quan nhà nước và người đứng đơn không được phép kháng nghị lại Quyết định Cao cấp, theo như Luật Thuế Hàng hóa nội địa, Hải quan và Dịch vụ quy định.
Mô hình Quyết định Cao cấp cho phép các nhóm đối tượng sau được xin cấp quyết định cao cấp;
- Bất kỳ cá nhân nào không phải là người thường trú mà muốn xây dựng một doanh nghiệp liên doanh ở Ấn Độ với một cá nhân không thường trú khác, hoặc với một người thường trú.
- Bất cứ cá nhân nào là người thường trú mà muốn xây dựng một doanh nghiệp liên doanh với một cá nhân không thường trú.
- Công ty con ở Ấn Độ 100% sở hữu của công ty mẹ từ nước ngoài.
- Liên doanh ở Ấn Độ.
- Công dân nào thuộc vào nhóm hay loại hạng mà Chính phủ Trung ương có thể quy định, bằng thông báo trong tờ Công báo - [Chính phủ Trung ương đã quy định – xin tham khảo Thông báo Số 69/2005 ngày 29/07/2005 – công dân thường trú là người đứng đơn khi người đó đề xuất xuất nhập khẩu bất kì loại hàng hóa nào từ Cộng hòa Singapore, theo Hiệp định Hợp tác Kinh tế Toàn diện (CECA)]
[“Người không thường trú”, “Công ty Ấn Độ” và “Công ty nước ngoài” được hiểu theo định nghĩa lần lượt nêu trong các Điều (30), (26) và (23A), Phần 2 của Luật Thuế Thu nhập, 1961.]
NHỮNG TRƯỜNG HỢP CÓ THỂ CẤP QUYẾT ĐỊNH CAO CẤP
Hải quan :
- Phân loại bất kì mặt hàng nào theo Luật Thuế quan năm 1975,
- Khả năng áp dụng của một thông báo được ban hành theo Tiết (1) của Phần (25), Luật Hải quan năm 1962, có liên quan đến tỉ suất thuế.
- Các nguyên tắc sẽ được áp dụng nhằm mục đích xác định giá trị hàng hóa, theo các điều khoản của Luật Hải quan năm 1962,
- Khả năng áp dụng các thông báo được ban hành liên quan tới thuế trong Luật Hải quan năm 1962, Luật Thuế quan năm 1975 và bất kì một loại thuế nào được quy định bởi các Luật khác vẫn còn hiệu lực tại thời điểm hiện tại và theo cách thức gống như là thuế Hải quan do Luật Hải quan 1962 quy định,
- Xác định xuất xứ hàng hóa theo các quy tắc được nêu ra trong Luật Thuế quan năm 1975, và các vấn đề liên quan.
Thuế hàng hóa nội địa
- Phân loại hàng hóa theo Luật Thuế suất Hàng hóa Nội địa năm 1985,
- Khả năng áp dụng của một thông báo được ban hành theo Tiết (1) của phần 5A, Luật Thuế Hàng hóa Nội địa năm 1944 có liên quan đến tỉ suất thuế.
- Các nguyên tắc sẽ được áp dụng nhằm mục đích xác định giá trị hàng hóa Luật thuế Hàng hóa Nội địa năm 1944,
- Khả năng áp dụng các thông báo được ban hành theo Luật thuế Hàng hóa Nội địa năm 1944, Luật thuế suất Hàng hóa Nội địa năm 1985, và bất kì một loại thuế nào khác được quy định bởi các đạo luật khác vẫn còn hiệu lực trong thời điểm hiện tại và theo cách thức tương tự như Thuế Hàng hóa Nội địa được quy định trong Luật thuế Hàng hóa Nội địa năm 1944,
- Khả năng chấp nhận tín dụng của thuế hàng hóa nội địa đã trả hoặc được coi là đã trả cho các loại hàng hóa được sử dụng để sản xuất - hoặc có liên quan tới việc sản xuất đó - loại hàng hóa phải đóng thuế nội địa (Cenvat).
- Xác định nghĩa vụ đóng thuế hàng hóa nội địa cho bất kì loại hàng hóa nào, theo Luật này.
Thuế dịch vụ
- Phân loại dịch vụ nào phải chịu thuế theo Chương V Luật Tài chính 1994,
- Định giá cho các dịch vụ phải chịu thuế để đánh thuế dịch vụ,
- Các nguyên tắc sẽ được áp dụng nhằm mục đích xác định giá trị của dịch vụ chịu thuế theo các điều khoản của Chương V,
- Khả năng áp dụng các thông báo được ban hành theo chương V,
- Xác định nghĩa vụ đóng thuế dịch vụ cho bất kì loại dịch vụ phải chịu thuế theo các điều khoản của Chương V.
Tuy nhiên, Quyết định Cao cấp có thể không cần phải có trong các trường hợp sau:
- Vấn đề đang đợi phán quyết – trong trường hợp của người đứng đơn – của bất kì một viên chức nào của Hải quan, Thuế Hàng hóa Nội địa, Thuế Dịch vụ, Tòa Phúc thẩm, hay bất kì Tòa án nào,
- Vấn đề y hệt như vụ việc nêu ra mà đã được Tòa Phúc thẩm hay bất kì Tòa án nào khác giải quyết rồi.
Quyết định Cao cấp sẽ chỉ ra trước rằng, người đứng đơn sẽ phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với một ‘hoạt động’, tức là ‘xuất khẩu’ hay ‘nhập khẩu’ theo Luật Hải quan, ‘sản xuất’ hay ‘chế tạo’ hàng hóa theo Luật Thuế Hàng hóa Nội địa và ‘dịch vụ chịu thuế’ theo Luật Thuế Dịch vụ. (Tại một vài địa phương, Thuế Dịch vụ được điều hành bởi viên chức Thuế Hàng hóa Nội địa).
Hội đồng Quyết định Cao cấp, Thuế Hàng hóa Nội địa, Thuế Hải quan và Dịch vụ là một cơ quan gần như tư pháp cấp cao do một thẩm phán đã nghỉ hưu của Tòa án Tối cao Ấn Độ lãnh đạo. Bên cạnh Chủ tịch còn có hai Thành viên (hàm Phó Vụ trưởng) – giàu kinh nghiệm về các vấn đề kĩ thuật và pháp lý. Chủ tịch hiện tại là Ngài Thẩm phán S. S. M. Quadri và hai Thành viên là Shri Somnath Pal và Tiến sĩ B. A. Agrawal.
Văn phòng của Hội đồng nằm ở Tầng 4, Khách sạn Samrat, Lautilya, Marg, Chanakyapuri, New Delhi – 110 021. Để biết thêm chi tiết có thể tìm trên website http://www.cbec.gov.in/cae/aar.html. Nếu bạn có bất cứ thắc mắc nào xin vui lòng gửi e-mail tới địa chỉ aarcee@hub.nic.in
Có thể liên lạc với các viên chức trong giờ hành chính để biết thêm thông tin chi tiết:
Lưu ý: Trong trường hợp bạn có yêu cầu về cuốn sách nhỏ giới thiệu chức năng của Hội đồng thì xin vui lòng gửi e-mail tới địa chỉ trên hoặc liên lạc với một trong các viên chức đã nêu trên.
Để biết thêm thông tin chi tiết liên quan tới Hội đồng Quyết định Cao cấp, xin vui lòng truy cập
http://www.cbec.gov.in/cae/aar/aar.htm
Để biết thêm thông tin chi tiét về các thủ tục Hải quan, xin vui lòng truy cập trang web của Cơ quan Hải quan
http://www.cbec.gov.in/
http://www.cbec.gov.in/cae/customs/cs-manual/manual_idx.htm
Để biết thêm thông tin
1. http://finance.indiamart.com/taxation/custom_duty/index.html
2. www.laws4india.com/ec.asp